InvisionFree - Free Forum Hosting
Join the millions that use us for their forum communities. Create your own forum today.

Learn More · Sign-up Now
Welcome to Phongdiepnet. We hope you enjoy your visit.


You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free.


Join our community!


If you're already a member please log in to your account to access all of our features:

Name:   Password:


 

 Truyện Nguyễn Nguyên Phước
Tâm
Posted: Jul 24 2007, 10:51 AM


Unregistered









Nguyễn Nguyên Phước - một tác giả rất đáng đọc hiện nay. Xin post 1 truyện để bà con cùng xem

Tâm trạng khi điên
Nguyễn Nguyên Phước

Ngày hôm qua, tôi vừa tṛn hai mươi tám tuổi. Người ta đưa tin về một quan chức ngành thể thao hiếp dâm một bé gái vị thành niên. Tôi nh́n bức ảnh người đàn ông có mái tóc muối tiêu. Một khuôn mặt tẻ nhạt. Cuộc đời ông ta chắc cũng tẻ nhạt như thế. Nhà ông ta ở gần khu nhà tôi. Một căn nhà sang trọng, ông ta ngồi đó lơ đăng gắp thức ăn. Người ta tin rằng ngủ với những cô gái đồng trinh sẽ đem lại may mắn. Ông ta đang ngồi tù. Đứa em họ tôi cũng đang ngồi tù. Lúc tôi học năm thứ hai, thấy đưa tin truy nă nó. Tôi cũng không chắc chắn măi đến khi bố tôi đọc báo và xác nhận. Đă lâu lắm rồi ông không đến nhà nó chơi. Nó lừa đảo ngân hàng hơn một tỷ. Lúc đó nó hai mươi tuổi, bằng tuổi tôi. Lúc đó tôi đang học năm thứ hai, tôi chưa bao giờ có đến một triệu.

Tôi cố gắng h́nh dung khuôn mặt đứa em tôi. Nó sống ở một nơi mà xung quanh toàn bọn đầu trộm đuôi cướp. Mẹ tôi nói rằng, nó đă thành đàn bà năm mười bốn tuổi. Tôi th́ đến bây giờ vẫn chưa từng hôn một đứa con gái nào cả. Tôi không thể tưởng tượng được khuôn mặt nó khi nó thành đàn bà. Trong trí tưởng tượng của tôi, chỉ có h́nh ảnh một con bé thông minh và lém lỉnh. Lúc đó, nó đang học lớp năm và học rất khá. Tôi vẫn không thể nào quên đôi mắt to tṛn ngạc nhiên đầy thích thú của nó khi nó mút que kem. Chưa bao giờ tôi nh́n thấy một niềm vui nào lớn lao đến thế. Giờ th́ nó đang ngồi quanh bốn bức tường.

Tôi cũng đang ngồi quanh bốn bức tường. Ở một nơi xa lạ với một thứ ngôn ngữ xa lạ. Nơi đây, tôi lần đầu tiên nh́n thấy những con quạ. Trông chúng thật thảm thương, cứ như thể số phận của chúng là suốt đời phải đậu trên đám dây điện chằng chịt kia vậy. Ở lab, chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh v́ nó là foreign language to everyone và đó là sự công bằng duy nhất mà sensei của tôi muốn thiết lập. Khi ông nói th́ tôi hiểu ông nói ǵ nhưng khi tôi nói th́ rơ ràng là ông không hiểu tôi nói ǵ nhưng ông vẫn khăng khăng rằng ông hiểu điều tôi muốn nói, và rằng chỉ có tôi là không hiểu điều ông muốn nói với tôi. Cả hai chúng tôi đều cô đơn trong cách diễn đạt của ḿnh.

Buổi sáng đầu tiên, tôi thức dậy, mở cửa sổ, nh́n thấy tuyết trắng xóa, lần đầu tiên trong đời tôi nh́n thấy tuyết. Nó giống hệt như giấc mơ hồi tôi c̣n bé. Thức giấc nh́n ra cửa sổ và thấy tuyết rơi. Những bông tuyết hờ hững rơi. Dường như chẳng có ǵ cả, ngoài một màu trắng. Hàng cây màu trắng. Cột điện màu trắng. Ṭa nhà màu trắng. Những con người mặc đồ trắng. Tất cả đều hiện lên với vẻ bí hiểm và ma quái. Hệt như một câu chuyện cổ tích, hay một đám tang.

Bữa trưa, sensei kể cho chúng tôi nghe về một em bé học sinh cắt cổ bạn nó bằng một cái dao rọc giấy. Ông thản nhiên cầm cái th́a làm động tác đưa ngang qua cổ. Đột nhiên, tôi thấy máu phọt ra ở cổ ông, những giọt máu màu nâu đặc quánh như chè đậu đen mẹ tôi vẫn hay nấu vào mùa hè. Món sashimi bỗng trở nên khó nuốt. Bữa ăn tối, ngày thứ bảy, tôi ngồi cùng hai thằng bạn, một Ấn Độ, một Bangladesh. Món ăn chung duy nhất của chúng tôi là thịt gà. Thằng Ấn Độ tin rằng những con ḅ là linh thiêng c̣n thằng Bangladesh th́ cho rằng những con lợn là bẩn thỉu. Tôi thèm thịt chó. Chúng nó hỏi tôi có thể ăn được thịt ǵ. “Tất cả”, tôi đáp, “trừ thịt người”.

Ngày hôm qua, tôi nhận được tin ông tôi mất. Ông và tôi cùng có chung một niềm vui là nuôi gà chọi và giải toán đố. Ông bị một thứ bệnh mà y học không có tên gọi, nên người ta đành xếp nó vào nhóm bệnh thần kinh. Trong khoảng hai mươi năm, trí nhớ của ông bị gặm nhấm dần. Ban đầu, khái niệm về thời gian bị thu hẹp lại. Cuối cùng, tất cả các sự kiện trong quá khứ đều được chập lại vào một thời điểm mà ông gọi là “ngày hôm qua”, dù thực tế có thể nó diễn ra cách đây rất nhiều năm. Lần cuối cùng tôi gặp ông, ông kể về một chuyến đi địa chất thời trai trẻ. Đoàn có mười tám người, ông là trưởng đoàn. Họ lạc vào một cái bản hoàn toàn không tiếp xúc với thế giới văn minh. Người trong bản giao tiếp bằng một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với tiếng Việt. Nó giống tiếng chim hót hay tiếng chó sói hú hơn là tiếng người. Họ cũng biết dùng lửa và chế ra một số vật dụng thô sơ khác. Đoàn địa chất được họ cho ăn một bữa thịnh soạn, có rất nhiều món ăn ông không biết tên. Đặc biệt, họ có một thứ đồ uống kỳ dị đựng trong cái ống tre. Nó không phải là rượu hay bia. Nó có một cái vị rất kỳ quặc mà ngôn ngữ của chúng ta không có khả năng diễn đạt. Ông không nhớ được là ḿnh đă uống bao nhiêu, chỉ biết khi tỉnh dậy th́ thấy ḿnh nằm dưới chân núi. Những người bạn đồng hành của ông đều biến mất. Nhiều năm sau vẫn không có tin tức ǵ về họ cả.

Ông tôi có chín người con, bốn con trai và năm con gái. Bố tôi là con cả và là người tỉnh táo nhất nhà. Chú hai và chú ba tôi đều mắc bệnh thần kinh từ nhỏ, cả hai đều chết đúng ngày tṛn hai mươi tuổi. Chú tư là người thông minh, tài hoa nhưng từ nhỏ đă được nuông chiều nên hư hỏng. Chú lấy vợ sớm nên con gái chú bằng tuổi tôi, chính là đứa bây giờ đang ngồi tù. Vợ chú là một người đàn bà nhan sắc và lẳng lơ. Bố tôi kể rằng, năm đứa em họ tôi lên bảy, chú tư đột nhiên bỏ nhà ra đi, chẳng để lại một tin tức ǵ. Bốn năm sau, mẹ nó tái giá. Bố dượng của con bé là một gă xích lô, nát rượu và cục súc. Lăo hay đánh đập con bé cực kỳ tàn nhẫn mỗi khi nó không mang đủ tiền về cho lăo mua rượu. Cũng cần nói thêm là sau khi mẹ nó tái giá, em họ tôi phải bỏ học đi bán vé số. Bố tôi lấy vợ năm ba mươi tuổi. Tôi ra đời ba năm sau đó. Các cô của tôi th́ đều lấy chồng xa, chẳng mấy khi tôi gặp họ. Thỉnh thoảng, mẹ tôi bảo “cái quần mày đang mặc là may từ mảnh vải của cô năm cho” hay “cái mũ này là của cô bảy”. Và như vậy trong h́nh dung của tôi, cô năm giống hệt như cái quần kẻ sọc hai màu đen và xám mà tôi mặc suốt những năm cấp hai, c̣n cô bảy là cái mũ màu nâu mà tôi đội cho đến tận ngày vào đại học. Tôi không bao giờ tưởng tượng được khuôn mặt họ. Ngay cả khi sau này dù đă gặp họ một vài lần, những khuôn mặt đó cũng chẳng thể nào in sâu vào trong trí nhớ của tôi. Cô năm vẫn chỉ là chiếc quần sọc, cô bảy vẫn chỉ là chiếc mũ nâu.

Bố tôi là một công chức nhà nước. Ông là người luôn giữ một niềm tin tuyệt đối vào những giá trị mà ḿnh đă từng tôn thờ. Khi em gái tôi có bầu với thằng bồ nó trước khi cưới mấy tháng, ông đă đuổi nó ra khỏi nhà và kiên quyết không dự đám cưới. Sau này, khi thằng cháu tôi lên hai, nhờ sự tác động của ông thủ trưởng cũ, một người mà bố tôi rất kính trọng, ông mới cho nó bước chân vào nhà. Ở ngay chính giữa pḥng khách nhà tôi, ông cho treo một bức ảnh rất to trong đó có h́nh ông được chụp với một ông thứ trưởng nào đấy mà đến giờ tôi cũng chẳng nhớ tên nhân dịp ông thứ trưởng kia đến thăm cơ quan. Tấm ảnh đen trắng là một cái ǵ đó rất thiêng liêng và đặc biệt đối với tuổi thơ hai anh em tôi. Ông thứ trưởng, trong bộ đồ kaki giản dị, lúc nào cũng nghiêm khắc nh́n chúng tôi. Ngay cả buổi sáng trước khi lên đường đi du học, tôi vẫn thấy ông nghiêm khắc nh́n tôi. Cái nh́n không mấy thiện cảm.

Cứ khoảng bẩy giờ sáng, sensei đánh thức cả lab dậy tập thể dục. Ông dẫn chúng tôi đi lại trong khuôn viên của trường và nói những chuyện linh tinh nhảm nhí. Những lúc như thế, thằng Ấn Độ trở nên hoạt bát một cách đáng ngờ v́ b́nh thường nó là đứa trầm tính. Mỗi lần như thế, nó lại kể về mối t́nh của nó. Nàng hai mươi hai tuổi, nước da bánh mật, đôi mắt to đen, khuôn mặt thánh thiện và nụ cười mê hồn. “Cuộc sống thật đê tiện”, nó thường lẩm bẩm như thế mỗi khi bắt đầu kể về đoạn kết câu chuyện t́nh của nó. Nàng bị ép gả cho một gă cùng đẳng cấp trong cái giai tầng rối rắm mà mỗi khi thằng Ấn Độ mô tả, tôi mặc dù đă cố gắng tập trung hết sức vẫn không thể h́nh dung ra được. Nó th́ trôi giạt sang cái xứ sở chết tiệt này. Nắng bắt đầu gắt, chúng tôi đi về lab. Buổi tập thể dục sáng thường kết thúc như vậy.

Sau đó, chúng tôi quay về lab. Ở lab, mỗi đứa có một cái bàn nhỏ. Trên bàn, chúng tôi bầy la liệt đủ thứ: sách vở, máy tính, dao cạo râu, bàn chải đánh răng và dầu gội đầu. Thậm chí có lần tôi c̣n bắt gặp trong ngăn kéo bàn của thằng Ấn Độ có mấy cái bao cao su, chả biết nó mua ở đâu, nhưng tôi biết chắc chắn nó không dùng. Nó là thằng ngoan đạo. Công việc của chúng tôi khá đơn giản, chúng tôi thường gọi đùa là tṛ chơi nặn đất sét. Sensei giao cho tôi năm cái lọ đựng đủ các loại chất lỏng nhầy nhầy. Tôi bắt đầu trộn chúng với nhau, ngày nào cũng vậy. Ngày nào tôi cũng trộn năm dung dịch đó và chờ đợi. Một sự chờ đợi đầy mệt mỏi và sung sướng. Dung dịch có nhiều màu. Tôi cứ thế trộn và hy vọng. Hy vọng vào sự may mắn. Hy vọng rằng đôi khi Đấng Tối Cao cũng không quên những kẻ trộn dung dịch như tôi. Tôi chờ đợi Người ban ơn. Tôi ngồi trộn dung dịch v́ biết rằng ḿnh không đơn độc. Tôi ngồi trộn dung dịch để thấy ḿnh c̣n tồn tại, ḿnh c̣n có ư nghĩa. Tất cả mọi người ở lab chúng tôi đều làm như vậy và được trả lương. Chúng tôi ngồi trên những cái bàn nhỏ, tất cả đều im lặng, căng thẳng, run rẩy và sợ hăi. Tất cả chúng tôi đều cố lắng nghe một tiếng gọi mà chúng tôi tin rằng nó tồn tại mặc dù chưa từng ai trong tất cả chúng tôi nghe thấy. Trong trí tưởng tượng của tôi, nó có thể giống như là tiếng gió rít từ phía bên kia cánh đồng, hoặc tiếng quạ kêu trên nóc nhà, hay tiếng máy bay lượn lờ giữa đêm khuya như những bóng ma màu trắng. Nhưng rất có thể, trên thực tế chẳng có âm thanh nào cả. Chiều tối, sensei thu hết tất cả mấy lọ. Ngày hôm sau ông lại phát một loạt lọ mới.

Ngày hôm qua, ông tôi khóc. Không có giọt nước mắt nào cả. Ông đờ đẫn nh́n vào bức tường màu trắng. Những vệt trắng nham nhở vốn là kết quả của một gă thợ nề vụng về không hiểu sao lại khiến tôi liên tưởng đến nét cọ của một tay họa sĩ siêu thực mà tôi quen ở quán cà phê. Tay này theo tôi vốn chẳng có tài cán ǵ, hắn chỉ là một tên bịa đặt. Những thứ hắn vẽ chả cái nào ra hồn cả. Hắn chỉ cho tôi một bức tranh tuyền màu trắng, chẳng khác ǵ người ta cầm một tấm vải nhúng xuống hố nước vôi, và bảo đây là bức “Gấu trắng ở Bắc cực”. Hiển nhiên là hắn chưa bao giờ đến Bắc cực cũng như chưa bao giờ nh́n thấy gấu trắng. Tôi nh́n sang một bức tranh toàn màu đen kịt và hỏi : “Thế bức này là Chó mực ở băi tha ma à?”. Hắn bảo “Không. Đây là bức Bướm đêm”. Thế là chúng tôi căi nhau. Hắn th́ khăng khăng là hắn vẽ bướm đêm, c̣n tôi th́ khẳng định là tôi chỉ nh́n thấy chó mực. Cuối cùng, cả tôi và hắn đều khóc, khóc v́ những điều ngớ ngẩn xảy ra trong cuộc đời chúng tôi, v́ những cái chúng tôi chẳng bao giờ h́nh dung ra được. Từ hôm ấy, tôi không bao giờ gặp lại hắn nữa. Ông tôi cầm chiếc quạt nan cũ kỹ lấy hết sức đập con ruồi trên bức tường. Tất nhiên, chả có con ruồi nào cả. “Lại trượt rồi”, ông lầm bầm và bắt đầu rấm rứt khóc. Tôi muốn dỗ dành ông nhưng không biết làm thế nào cả. Tôi chẳng nh́n thấy con ruồi nào cả. Tôi chỉ nh́n thấy nhát quạt của ông đập vào tường. Nhưng tôi không biết làm thế nào để nói cho ông hiểu được. Làm sao tôi có thể chứng minh được điều đó? Nhỡ có con ruồi thật th́ sao? Tôi thấy buồn rười rượi. Tôi xấu hổ v́ sự ngu dốt của ḿnh. V́ tôi không nh́n thấy con ruồi.

Buổi tối, tôi và bạn gái đi chơi Hồ Tây. Đang đi bộ trên đường Thanh Niên, đột nhiên một gă thanh niên đầu húi cua, mặt đầy sẹo, chặn chúng tôi lại, cười nhăn nhở nói với bạn tôi: “Em xinh như một con pḥ”. Đoạn hắn quay sang tôi cười giễu cợt. Tôi cụp mắt xuống. Tôi không dám nh́n vào mắt hắn. Tôi kinh hăi và hiểu rằng nếu có đánh nhau chắc tôi không phải đối thủ của hắn. Tôi im lặng. Tôi im lặng không phải v́ tôi là kẻ khôn ngoan như những nhà hiền triết trong sách giáo khoa mà là v́ tôi không biết nói ǵ. Tôi chưa bao giờ lâm vào t́nh huống khó xử như thế này. Thực ra, về sau này tôi mới nhận thấy rằng những t́nh huống kỳ quặc như vậy luôn luôn xảy ra. Nó xảy ra thường xuyên đến mức nhiều lúc tôi có cảm tưởng đó là ư muốn quái gở của Thượng Đế. Cuối cùng th́ mọi chuyện cũng qua, hắn bỏ đi, c̣n tôi xấu hổ. Suốt đoạn đường c̣n lại, chúng tôi không nói với nhau lời nào. Ngày hôm sau, cô ấy gọi điện nói lời chia tay sau “một đêm suy nghĩ rất kỹ”. Cô nói rằng cô không chịu đựng được ư nghĩ rằng người yêu ḿnh là kẻ hèn nhát. Tôi chẳng nói ǵ. Kẻ hèn nhát không nên nói ǵ cả. Tôi chia tay mối t́nh đầu trong nhục nhă. Từ đó trở đi, tôi kinh tởm đàn bà.

Buổi chiều, gió mạnh và nắng gắt. Tôi hay cảm thấy đau đầu vào những lúc như thế. Đầu nhức như búa bổ, tôi không c̣n giữ được sự tỉnh táo cần thiết để nhận biết mọi thứ nữa. Thay v́ trộn dung dịch màu trắng vào dung dịch màu đen, tôi lại trộn dung dịch màu xanh vào màu đỏ. Và kết quả là chả ra sao cả. Gió vẫn thổi mạnh, tai tôi ù đi v́ sợ hăi. Tôi chẳng c̣n nghe thấy ǵ nữa ngoài tiếng gió. Càng cố gắng tập trung, tôi càng mất phương hướng. Tôi không c̣n nghĩ được điều ǵ nữa. Óc tôi như bị vỡ vụn thành trăm mảnh. Sensei đưa cho tôi cốc nước, tôi chẳng kịp nh́n xem nó màu ǵ, h́nh như là màu xanh. Tôi uống nhưng kết quả cũng không khá hơn. Tôi bắt đầu nghe thấy tiếng lầm bầm ở đâu đó. Một giọng nói đứt quăng, và lí nhí đến nỗi tôi lúc đầu tôi không thể phân biệt đó là giọng người lớn hay trẻ con. Cuối cùng tôi cũng nhận ra là có hai người đang nói chuyện. “Chỗ này lạnh lắm, mẹ ạ” - giọng một thằng bé khoảng năm sáu tuổi nói. “Nhưng ḿnh đi t́m hai mươi năm nay đâu có chỗ nào tốt hơn”- người mẹ nói. Giọng bà ta trầm đục và có vẻ mệt mỏi. “Thế bố có ở đây không?” - thằng bé lại hỏi. “Mẹ không biết. Con đừng hỏi nữa, mẹ mệt lắm rồi. Ḿnh dừng ở đây thôi. Thôi ḿnh đi ngủ đi con.”

Từ hôm đó trở đi ngày nào tôi cũng nghe thấy tiếng hai mẹ con họ vào lúc trước khi đi ngủ. Tôi kể cho thằng Bangladesh nhưng nó không tin. Nó chả tin vào cái ǵ ngoài lễ ramadan và những con lợn bẩn thỉu. Ngày nào đối với nó cũng thuộc về tháng ramadan. Nó chỉ ăn vào buổi tối sau khi mặt trời lặn. Sensei nhiều lần cố nhét thức ăn vào mồm nó nhưng không được. Hai mẹ con họ nói đủ thứ chuyện trên đời. Thỉnh thoảng họ lại nhắc đến người bố giấu mặt.

Buổi tối, tôi đi dạo trong thành phố. Một thành phố đơn điệu. Không văn hóa, không lịch sử, không ǵ cả. Chỉ đơn giản là nơi người ta đến ở, rồi một lúc nào đấy đột nhiên họ quyết định gọi nó là thành phố. Chín giờ tối, không một bóng người. Cứ đi khoảng vài trăm mét, tôi lại thấy một công viên mini. Buổi tối chúng giống như những nghĩa địa. Tôi đi măi và thấy mệt mỏi. Chẳng có ǵ đặc biệt, những ngôi nhà giống hệt nhau với những cái mái h́nh chóp và hàng rào bằng một loại cây nào đó mà tôi không biết tên. Tôi cứ thế đi một ḿnh, chẳng có ǵ cả ngoài sự sợ hăi. Một thành phố chết. Tôi nằm trên cái ghế đá, nước mắt trào ra. Tôi nhớ đến những buổi tối ngày xưa, tôi hay ngước nh́n bầu trời đầy sao và thấy ḿnh hạnh phúc. Giờ đây, cái niềm vui ấy cũng chẳng c̣n nữa. Những ngôi sao kia giờ chỉ làm tôi cảm thấy sợ hăi. Chúng đang cười nhạo tôi. Nỗi sợ hăi mơ hồ cứ thế lớn dần lên. Tôi quá đơn độc dưới bầu trời này. Tôi cứ nằm yên như thế, y như một kẻ tội đồ chờ đợi h́nh phạt.

Sáng sớm hôm sau, mới sáu giờ sáng, thằng Bangladesh đă đánh thức tôi dậy. Tôi lật đật chạy theo nó ra hành lang. Thân h́nh cao lớn của nó trong cái ánh sáng lờ mờ của buổi sáng mùa đông trông thật khủng khiếp. Thỉnh thoảng, tôi vẫn h́nh dung ra cảnh nó bóp cổ ḿnh. Với cánh tay lực lưỡng đầy lông lá kia, chắc chắn tôi, cho dù cố gắng giăy giụa đến đâu, cũng không chịu đựng được quá năm phút. Đến cuối hành lang, nó chỉ ra sân trường, rồi th́ thầm hỏi: “Mày có nh́n thấy ǵ không?”. Tôi hơi ngạc nhiên, mới sáng ra mà nó đánh thức ḿnh dậy để nh́n sensei đang nói chuyện với một ông giáo ở lab khác ở dưới sân trường hay sao.

Tôi thờ ơ đáp: "Sensei đang nói chuyện". "Thế mày không thấy ǵ khác lạ à?" - nó hơi thất vọng. "Chả có ǵ. Ông ấy vẫn thế." "Mày nh́n quần áo ông ấy xem?" - nó lại th́ thầm". "Ừ. Nó có vẻ không giống mọi ngày." "Đấy. Mày bắt đầu thông minh rồi đấy. Mọi ngày ông ấy lúc nào cũng mặc đồ trắng. Nhưng cả tuần nay tao để ư. Trước giờ tập thể dục của bọn ḿnh, chẳng bao giờ ông ấy mặc đồ trắng. Chỉ khi nào gặp bọn ḿnh ông ấy mới mặc đồ trắng thôi." "Th́ sao?" "Chẳng sao cả. Tao chỉ thấy lạ thôi. Mà đó là một phát hiện quan trọng đấy. À mà mày đă biết chuyện ǵ chưa?" - nó lại chuyển sang giọng th́ thầm.

Chuyện ǵ nữa đây? - tôi hơi bực ḿnh. Nó đánh thức ḿnh dậy sớm chỉ v́ một chuyện hết sức vớ vẩn mà nó cho là unusual. Chúng tôi làm thí nghiệm suốt ngày chỉ mong có cái ǵ unusual với lại unexpected xảy ra. Nhưng rốt cục nó lại chẳng bao giờ xảy ra. Tất cả mọi thí nghiệm đều diễn ra hết sức b́nh thường, b́nh thường đến mức buồn tẻ, b́nh thường đến mức chúng tôi chẳng cần nh́n cũng biết kết quả nó phải thế, không thể khác được. Nhưng cuộc sống của chúng tôi th́ ngược lại. Chẳng có một quy luật nào hết. Tất cả đều diễn ra hết sức lộn xộn, lộn xộn một cách bất b́nh thường. “Thằng Ấn Độ sắp lấy vợ”- nó vẫn th́ thầm.

Đột nhiên, tôi thấy rùng ḿnh. Tôi nhớ có lần thằng Ấn Độ bảo với tôi rằng có đến tám mươi phần trăm dân Ấn cưới nhau theo kiểu arranged marriage. Nó cũng nằm trong cái tám mươi phần trăm của cái đất nước gần một tỷ dân ấy. Nó chẳng có sự lựa chọn nào hết. Cô dâu của nó có đẳng cấp cao hơn nó một bậc, một intercaste marriage theo cách gọi của nó. Điều duy nhất mà nó biết về cô dâu tương lai là một tấm ảnh. Tôi đă từng xem tấm ảnh ấy một lần. Cô gái trong ảnh khá dễ thương trong bộ quần áo cổ truyền Ấn Độ. Có lẽ khi chụp tấm h́nh này, cô không nghĩ rằng một ngày nào đó tấm ảnh sẽ là mối liên hệ duy nhất với vị hôn phu tương lai của cô. Tôi hỏi thằng Ấn Độ:

- Thế mày được chọn cái ǵ ?

- Voi - nó lầu bầu. - Tao được chọn con voi dành cho lễ cưới. Tao sẽ cưỡi lên con voi đấy trong ngày cưới. Dù sao, tao cũng có sự lựa chọn mặc dù nó không quan trọng lắm.

Ngay từ sáng sớm, bố mẹ thằng Ấn Độ đă đến ngồi chờ ở pḥng tiếp tân. Họ đến để đưa nó về Ấn Độ làm đám cưới. Nó không chịu về. Họ phải bay một quăng đường dài để đến đây đưa nó về quê lấy vợ. Dù sao, nó cũng không thể trốn tránh trách nhiệm. Nó có trách nhiệm duy tŕ ṇi giống. Nó có trách nhiệm cưới cô gái mà Thượng Đế dành cho nó. Đấy là truyền thống mà nó không thể phá vỡ. Nó chẳng có sự lựa chọn nào cả v́ nếu có chắc chắn nó sẽ không chọn sinh ra làm người Ấn Độ. Bố mẹ nó trông nhỏ bé và nhẫn nhục so với căn pḥng tiếp tân quá rộng và quá sang trọng. Họ có nước da ngăm đen rất đặc trưng. Ông chồng để ria mép; cùng với cái trán hói, nó càng làm ông thêm nhỏ bé và nhẫn nhục. Bà vợ đội khăn trùm gần kín mặt nhưng nó vẫn không che được những nếp nhăn mà chỉ cần nh́n thoáng qua người ta đă thấy nó tồn tại mặc dù có thể thị giác không ghi nhận được thông tin về những nếp nhăn đó. Thằng Ấn Độ buồn bă đi theo bố mẹ nó ra khỏi trường. Thỉnh thoảng nó ngoái lại nh́n chúng tôi. Không hiểu sao tôi thấy đôi mắt thằng Ấn Độ buồn ngơ ngác giống hệt đôi mắt con chó cún của tôi ngày trước lúc nó sắp chết. Một tháng sau, chúng tôi nhận được tin nó mất. Một cái chết kỳ lạ.

Thằng Bangladesh ngày càng ăn ít và tất nhiên là nó chỉ ăn vào buổi tối v́ những ngày lễ ramadan chẳng bao giờ kết thúc. Nhưng điều kỳ lạ nó không giảm cân nào. Nó giấu thức ăn thừa dưới gầm giường cho đàn chuột. Khoảng nửa đêm, bọn chuột bắt đầu rúc rích ṃ vào pḥng. Chúng ḅ lổm ngổm trên sàn nhà, leo lên cả bàn học. Mà không chỉ có thế, chúng vừa chạy vừa kêu rinh rích đầy khoái trá. Tôi căm ghét những con chuột màu xám với đôi mắt thao láo; chúng chẳng bao giờ biết xấu hổ. Thằng Bangladesh, ngược lại, rất quư đàn chuột. Nó thường túm cổ lấy con to nhất, vuốt ve một cách rất tŕu mến khiến con chuột lim dim v́ khoái cảm rồi đột nhiên nó bóp mạnh một cái. Con chuột bị đau kêu oai oái và cuối cùng không chịu đựng được con chuột quay đầu lại cắn một nhát vào tay khiến thằng Bangladesh phải buông tay ra. Ngày nào thằng Bangladesh và con chuột cũng chơi tṛ đấy. Điều kỳ lạ là con chuột mặc dù rất đau nhưng vẫn vui vẻ tham gia vào tṛ chơi cùng thằng Bangladesh, cứ như thể giữa chúng có một sự thỏa thuận ngấm ngầm trong tṛ chơi bệnh hoạn đó. Đàn chuột ngày càng đông, thức ăn thừa của thằng Bangladesh dần tỏ ra không đủ đáp ứng cho cái thói phàm ăn và sinh sản nhanh khủng khiếp của những con chuột, mặc dù thằng Bangladesh đă cố gắng nhịn ăn đến mức tối đa. Thậm chí, nó c̣n mang cả lọ mứt mà mẹ nó gửi cho nó ăn cả năm để cho đàn chuột ăn trong một tuần. Rồi nó bắt đầu đi xin cả thức ăn thừa của những đứa pḥng bên cạnh nhưng dường như nỗ lực của nó chả thấm vào đâu. Cuối cùng thằng Bangladesh quyết định giảm số lượng đàn chuột. Đầu tiên là con chuột đầu đàn. Tối hôm đó, thằng Bangladesh vẫn chơi tṛ chơi thường lệ với con chuột rồi đột nhiên nó bóp mạnh vào ḿnh con chuột. Con chuột quay đầu lại cố gắng cắn vào tay thằng Bangladesh nhưng lần này nó không buông tay. Bàn tay hộ pháp của nó càng tóm chặt con chuột hơn. Con chuột kêu la thảm thiết. Nó không ngờ lại có kết cục này. Tṛ chơi của ngày hôm qua cuối cùng cũng kết thúc. Con chuột biến thành một đống bầy nhầy trong tay thằng Bangladesh. Trong bóng tối, tôi vẫn nh́n thấy rơ trên khuôn mặt thằng Bangladesh hiện ra một nụ cười bí hiểm.

Từ hôm đó trở đi, ngày nào thằng Bangladesh cũng giết vài con chuột. Đàn chuột ngày càng trở nên khôn ngoan nhưng thằng Bangladesh c̣n thông minh hơn. Ngày nào nó cũng tóm được vài con chuột. Những con chuột c̣n lại phần v́ nhu cầu thức ăn, phần v́ cái ảo tưởng rằng với kinh nghiệm của ngày hôm qua chúng có thể dễ dàng chạy thoát khỏi bàn tay của thằng Bangladesh nên vẫn ṃ lên pḥng vào ban đêm. Số lượng chuột giảm rất nhanh. Đêm hôm qua, nếu như tôi đếm chính xác th́ chỉ c̣n mười hai con chuột. Thằng Bangladesh th́ càng ngày càng say mê với tṛ chơi giết chuột nhưng bây giờ mỗi ngày nó chỉ giết một con v́ đàn chuột giờ c̣n rất ít. Tôi để ư thấy khuôn mặt nó ngời sáng lên mỗi khi nh́n thấy con chuột giăy giụa trong ḷng bàn tay, ngời sáng đến mức trong bóng đêm tôi vẫn có thể nh́n thấy cái vẻ long lanh rất khó tả trên đôi mắt thằng Bangladesh.

Chiều hôm qua, thằng Bangladesh nhận được một tin đặc biệt. Buổi tối, nó không buồn ăn cơm. Dường như có cái ǵ bất ổn trong tâm trạng của nó. Cuối cùng nó nói với tôi:

- Tao phải về Dhaka làm giáo sư.

- Tuyệt vời. - Tôi nói. - Mày có thể làm cái mà mày thích.

- Tao cũng chẳng biết nữa. - Nó buồn bă lắc đầu. - Từ trước đến giờ, tao chưa bao giờ làm cái ǵ độc lập cả. Tao sợ sự đơn độc. Nhất là trong nghiên cứu.

Tôi không nói ǵ. Tôi cũng thế. Tôi sợ nỗi cô đơn khi phải đi một ḿnh trên con đường mà ḿnh không biết phương hướng. Thằng Bangladesh đột nhiên nói:

- Mày có muốn đi cùng tao không?

Tôi không trả lời. Im lặng kéo dài suốt buổi tối. Chúng tôi ngồi theo đuổi những ư nghĩ riêng. Chúng tôi nghĩ về tương lai trong nỗi khiếp sợ. Cuộc sống rồi sẽ ra sao đây?

Ngày hôm qua, tôi đi đưa đám một người bạn thân thời phổ thông; anh mất ở bệnh viện tâm thần ở Trâu Quỳ. Một bệnh nhân tâm thần cùng pḥng đă bóp cổ anh cho đến chết; sau đó, hắn dùng một con dao, loại vẫn dùng để rọc giấy, tự cắt cổ ḿnh. Cho đến nay, anh vẫn là người tôi kính trọng nhất v́ nghị lực và ư chí. Năm anh lên sáu, bố anh bỏ nhà theo một người đàn bà khác. Anh và em gái sống cùng mẹ và ông ngoại, một ông già mắc bệnh hoang tưởng, hậu quả của những cơn sốt rét rừng hồi c̣n ở chiến trường. Mẹ anh phải làm rất nhiều việc như gánh nước thuê, bán hàng rong, vé số... để nuôi cả gia đ́nh. Hàng ngày, anh học một buổi c̣n một buổi phải đi bán kem để có tiền mua sách vở và đóng học phí. Anh luôn là người đứng đầu trong mọi kỳ thi. Hết năm thứ hai đại học, anh được học bổng sang Nhật học. Cùng năm đó, mẹ anh bị tai nạn giao thông, phải cưa hai chân. Đứa em gái anh, có lẽ v́ quá mệt mỏi trước cuộc sống gia đ́nh, đă bỏ nhà đi bụi đời. Mấy năm sau, người ta t́m thấy xác nó trong một ngôi nhà hoang ở ngoại thành. Cái chết của nó cho đến nay vẫn chưa rơ nguyên nhân. Học xong tiến sĩ, bạn tôi về nước và một thời gian sau đó th́ mắc bệnh thần kinh. Sau đám tang, mẹ anh đưa cho tôi một cuốn vở nhỏ, loại vở có ḍng kẻ ô ly vẫn dùng cho học sinh cấp một; bà nói rằng đây là thứ mà bệnh viện họ t́m thấy ở dưới gầm giường anh. Bà muốn nhờ tôi đọc hộ v́ bà không biết chữ. Tôi mở cuốn vở ra, đó là nhật kư anh viết trong những ngày ở Trâu Quỳ. Nhật kư bắt đầu bằng câu: “Ngày hôm qua,...”.


Nhật Bản, 8/2004

Top
Guest
Posted: Jul 24 2007, 10:55 AM


Unregistered









7 truyện ngắn mới nhất


Con đường ma

Vào một buổi sáng mùa thu cách đây hai mươi năm, một cậu bé mười tuổi tên là Nhân đột nhiên mất tích trên đường đến trường. Tất cả mọi nỗ lực của gia đ́nh và cơ quan điều tra đều không mang lại một kết quả nào. Cậu biến mất như chưa từng tồn tại trên cơi đời này.

Đă có thời kỳ, dân địa phương gọi con đường ấy là con đường ma. Con đường này gắn với một truyền thuyết được một thầy bói chết cách đây gần một trăm năm kể lại. Truyền thuyết kể rằng, trên con đường ma, tại những thời điểm đặc biệt sẽ có sự ngưng đọng thời gian, người nào đi trên con đường ấy vào những thời điểm như vậy sẽ không bao giờ có thể quay về, hắn sẽ đi măi trên con đường ma. Hắn sẽ không cảm thấy đói, mệt mỏi hay bất cứ một cảm giác ǵ bởi kể từ thời điểm đó trở đi, hắn không c̣n khả năng nhận thức được bất cứ điều ǵ, kể cả cái bổn phận phải tiếp tục đi trên con đường ma. Hắn cũng sẽ chẳng bao giờ già hay chết đi bởi trên con đường ma sẽ không c̣n những ư niệm về thời gian hay sinh hủy. Trái tim hắn vẫn đập. Máu vẫn chảy trong huyết quản của hắn theo cơ chế của hệ tuần hoàn. Hắn vẫn sống mà chẳng cần ăn uống ǵ, bởi dạ dày của hắn dẫu có co bóp th́ cũng chẳng qua co bóp thế thôi chứ chẳng có mục đích ǵ khác ngoài việc co bóp, nghĩa là nó chẳng hấp thụ một chút chất dinh dưỡng nào mà cũng chẳng thải ra một chút cặn bă nào. Hai lá phổi của hắn vẫn phồng lên xẹp xuống một cách đều đặn, nhưng cũng giống như cái dạ dày, nhiệm vụ của nó cũng chẳng có ǵ ngoài lưu chuyển không khí, mà nói thật ra chẳng có ích ǵ cho cơ thể. Mỗi bộ phận trên cơ thể hắn giờ đây có thể hoạt động hoàn toàn độc lập, chẳng cần bất kỳ sự hỗ trợ nào từ những bộ phận khác. Quả tim của hắn chẳng hạn, nếu tách ra, nó vẫn đập một ḿnh, đều đặn như những tiếng tích tắc đồng hồ cho đến thời điểm kết thúc, mà thực sự chẳng ai biết thời điểm ấy là khi nào. Nói tóm lại, mọi vận động của tất cả các cơ quan trong cơ thể hắn đều chẳng mang ư nghĩa ǵ ngoài chính bản thân sự vận động ấy cũng như hắn khi đi trên con đường ma th́ ngoài cái mục đích của sự di chuyển ấy ra, không c̣n bất kỳ mục đích nào khác.

Một số người h́nh dung con đường ma giống như một cái máy tập chạy, người ta cứ thế chạy măi trên đó, chẳng bao giờ dừng. Nếu chỉ nh́n bề ngoài th́ so sánh này có vẻ hợp lư, đi trên con đường ma hay chạy trên máy tập chạy đều cho những kết quả vô vọng như nhau. Nhưng trên thực tế, con đường ma vẫn là một con đường theo đúng nghĩa của nó chứ không phải là một cái máy tập chạy, nghĩa là nó vẫn mang lại cho người ta h́nh ảnh của một sự di chuyển toàn thân chứ không chỉ đơn thuần là sự vận động cục bộ của một số hữu hạn các bộ phận trên cơ thể.

Một số người khác th́ lại cho rằng con đường ma chẳng qua là một ṿng tṛn, người ta đi măi quanh cái ṿng tṛn ấy mà chẳng bao giờ nhận thức được rằng ḿnh đă quay trở lại chính con đường đă qua. Nhận xét này, dù mới nghe qua th́ có vẻ hợp lư hơn nhận xét trước, vẫn không phản ánh đúng tinh thần của truyền thuyết. Con đường ma, theo truyền thuyết, không bao giờ lặp lại. Thoạt nh́n, người ta sẽ thấy cảnh vật trên những đoạn đường khác nhau có rất nhiều điểm tương đồng, thậm chí có thể nói là giống hệt nhau, nhưng nếu nh́n kỹ th́ rơ ràng có sự khác biệt. Một số người lập luận rằng, ngay cả khi chúng ta nh́n cùng một sự vật ở những thời điểm khác nhau th́ chúng cũng không hoàn toàn giống nhau, v́ vậy khả năng chúng ta đi lại trên chính con đường cũ là hoàn toàn có thể. Lẽ dĩ nhiên, sẽ rất khó khăn để có thể bác bỏ điều này, nhưng nếu xét trên tinh thần chung của truyền thuyết, một tinh thần tương đối tự do, th́ việc áp đặt một khái niệm như ṿng tṛn vào con đường ma là khiên cưỡng và có vẻ không hợp lư.

Có rất nhiều câu hỏi nghi vấn được đặt ra đối với sự tồn tại của con đường ma. Điều này nói chung hoàn toàn dễ hiểu bởi trước bất kỳ sự tồn tại nào luôn có những nghi ngờ được nêu ra nhằm phản bác sự tồn tại ấy. Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm một điều rằng, trên thực tế, ít khi người ta đặt câu hỏi bày tỏ nỗi nghi ngờ về sự tồn tại của chính những nghi vấn. Điều ǵ sẽ xảy ra khi bản thân việc đặt ra những nghi vấn đă là không hợp lư rồi? Vấn đề chắc chắn sẽ c̣n phức tạp hơn rất nhiều khi một nghi vấn không hợp lư lại dẫn đến một sự bế tắc trong việc giải thích tính hợp lư về một tồn tại nào đó mà nghi vấn đó đặt ra.

Mặc dù vậy, vẫn phải nhắc đến một câu hỏi đă được nhiều người nêu ra: liệu những người đi trên con đường ma ấy có bao giờ gặp nhau không? Truyền thuyết không nói ǵ về điều đó nhưng căn cứ trên những cơ sở mà nó xây dựng, người ta có thể đi đến kết luận rằng những người đi trên con đường ma ấy không bao giờ gặp nhau. Giống như những gói ḿ ăn liền được đặt vào băng chuyền, mặc dù so sánh này cũng không hợp lư lắm bởi những gói ḿ ăn liền tự nó không thể di chuyển được, mỗi người bọn họ sẽ đi trên những đoạn khác nhau và cứ như thế họ di chuyển trên một con đường chung, có rất nhiều người cùng đi nhưng họ chẳng bao giờ nhận ra điều đó, họ vẫn tin rằng ḿnh là kẻ duy nhất đi trên con đường này và v́ thế, đôi khi, họ cảm thấy cô đơn, một nỗi cô đơn mà qua cái cách họ thể hiện người ta có thể cảm thấy một niềm kiêu hănh rất lớn, nhưng rốt cuộc th́ đó chẳng qua chỉ là một nỗi cô đơn hết sức giả tạo.

Cho đến nay, huyền thoại về con đường ma vẫn được lưu truyền trong dân gian mặc dù phải thừa nhận rằng ảnh hưởng của nó đă giảm đi rất nhiều so với ngày xưa. Tuy nhiên, sự phi lư của nó rơ ràng không thể chứng minh được một cách chặt chẽ. Ngoài ra, cũng nên lưu ư một điều rằng, trên thực tế, trong một số ghi chép mà tính xác thực của chúng vẫn chưa được kiểm chứng một cách hoàn toàn, có khá nhiều trường hợp mất tích như cậu bé Nhân và nếu xem xét vấn đề một cách khách quan hơn nữa th́ ngay cả sự tồn tại của cậu bé Nhân trước khi mất tích cũng là một điều không thể kiểm chứng được.

San Diego 05.2006



Trên tàu

Tàu dừng ở Huế ba mươi phút. Hành khách nhốn nháo mất một lúc. Bên ngoài, những người bán hàng rong chen nhau đưa đồ ăn cho khách. Thành phố ch́m trong ánh sáng nhợt nhạt hắt ra từ những ngôi nhà. Họ mua hai cái bánh sừng ḅ và hai chai nước khoáng.

“Ngày xưa, suưt nữa th́ anh yêu một cô gái Huế.”

“Sao lại suưt nữa?”

“Th́ suưt nữa. Thế thôi.”

“Cô ta xinh không?”

“Nh́n ảnh cũng được.”

“Anh chưa gặp cô ta à?”

“Chưa. Chỉ nh́n ảnh thôi. Bọn anh gửi ảnh cho nhau.”

“Thế anh biết cô ta từ khi nào?”

“À, hồi ấy anh học lớp mười một. Cô ấy có một bài thơ đăng báo. Anh viết thư cho cô ấy.”

“Chỉ có thế thôi?”

“Chỉ có thế thôi. Rồi bọn anh viết thư cho nhau thường xuyên. Trong năm năm liền.”

“Rồi sao nữa?”

“Chả sao cả. Rồi bọn anh không viết thư cho nhau nữa.”

“Tự nhiên không viết nữa à?”

“Cũng không hẳn thế.”

“Thế anh viết những ǵ?”

“Tất cả mọi thứ.”

“Tất cả mọi thứ là những thứ ǵ?”

“Chẳng có ǵ.”

“Anh làm em chán rồi đấy. Đầu tiên là tất cả. Sau đấy là chẳng có ǵ.”

“Th́ đúng là chẳng có ǵ. Toàn những chuyện vớ vẩn.”

“Nhưng anh có bao giờ thế đâu? Tự dưng viết thư cho một người không quen biết, kể toàn những chuyện vớ vẩn.”

“Hồi đó anh muốn viết văn.”

“Anh chẳng bao giờ nói với em chuyện đấy.”

“Chuyện ǵ cơ?”

“Chuyện anh đă từng muốn viết văn.”

“Chuyện ấy chẳng có ǵ đáng nói.”

“Chẳng có ǵ đáng nói? Thế tại sao anh lại viết cho cô ta?”

“V́ hồi ấy anh c̣n trẻ. Anh khác bây giờ.”

“Tóm lại anh viết cho cô ta những ǵ?”

“Chả ǵ cả. Anh nói rồi. Toàn những chuyện lặt vặt. Những cuốn sách anh đă đọc. Một bài hát anh vừa mới nghe. Hà Nội những ngày mùa đông. Đứa em họ vừa mới mất.”

“Thế c̣n văn chương?”

“Tất nhiên cả văn chương nữa.”

“Cô ta cũng thích viết văn?”

“Tất nhiên rồi.”

“Thế anh viết ǵ về văn chương cho cô ta?”

“Toàn chuyện vớ vẩn. Những nhà văn anh yêu thích.”

“Anh yêu thích ai?”

“Nhiều người.”

“Nhiều người là những ai?”

“Là nhiều người.”

“Họ phải có tên chứ.”

“Anh chỉ nhớ được vài cái tên. Chẳng hạn như Tolstoy hay Chekhov. À cả Hemingway nữa. Chẳng nhớ hết được. Lâu rồi anh không đọc sách.”

“Sao anh không đọc nữa?”

“Anh chán rồi.”

“Tại sao?”

“Th́ chán. Có thế thôi. Em toàn hỏi những chuyện vớ vẩn.”

“Thế tại sao anh và cô ta lại không viết thư cho nhau nữa?”

“Chả tại sao cả. Tự dưng anh không thích viết nữa.”

“Từ lúc nào vậy?”

“Từ hồi anh học năm thứ tư. Thôi, đừng hỏi nữa. Anh chán rồi. Chuyện này chẳng có ǵ để kể.”

“Kể cho em nghe đi. Em xin anh đấy.”

“Có ǵ để kể đâu. Sao em lại quan tâm đến chuyện ấy thế?”

“Kể cho em đi mà. Tại sao anh và cô ta không gặp nhau? Anh không muốn à?”

“Thực ra có một lần. Vào mùa hè năm thứ ba. Anh đi làm thêm, dành dụm được một ít tiền. Anh vào Huế. Anh muốn rủ cô ấy đi Hội An.”

“Vậy là anh đă gặp cô ta?”

“Không, anh không gặp. Anh đến Huế vào buổi sáng sớm. Nó không giống như anh tưởng tượng. Anh hoàn toàn thất vọng. Nó quá nhỏ. Xấu xí và nhếch nhác. Anh cảm thấy ḿnh bị lừa.”

“Bị ai lừa? Cô ta ấy à?”

“Không, chả ai lừa anh cả. Anh chỉ có cảm giác ḿnh bị lừa. Có thế thôi.”

“Trong thư viết cho anh, cô ta có viết về Huế không?”

“Tất nhiên rồi.”

“Và anh đă h́nh dung Huế theo cái cách cô ta miêu tả, đúng không?”

“Ừ. Có lẽ vậy.”

“Chắc chắn vậy. V́ thế mà anh cảm thấy bị lừa. Huế trên thực tế không đẹp như cô ta miêu tả. Và anh cảm thấy rằng cô ta cũng sẽ như vậy. Không xinh như anh tưởng tượng. Anh thất vọng v́ điều đó.”

“Anh không biết. Nhưng anh nghĩ cảm nhận của con người ta về thành phố quê hương thường méo mó. Nếu cô ấy đến Hà Nội, chắc cũng có cảm giác giống anh.”

“Nhưng biết đâu cô ta lại yêu Hà Nội.”

“Cũng có thể. Anh không biết. Lúc ấy anh cảm thấy hụt hẫng. Rồi anh nhận ra rằng anh và cô ấy không hợp nhau. Rằng bọn anh chỉ sống bằng cuộc sống tưởng tượng. Bọn anh không thể đi xa hơn, nếu cứ giữ măi cái ảo tưởng về một cuộc sống mơ mộng và hoàn toàn thiếu thực tế kiểu như vậy. Nó sẽ chẳng đi đến đâu cả.”

“Rồi anh về Hà Nội?”

“Không. Anh đi Hội An một ḿnh. Lúc ấy anh chỉ muốn chết quách đi cho xong.”

“Anh muốn chết chỉ v́ cô ta làm anh thất vọng à?”

“Anh không biết. Lúc đó có thể anh đă cảm thấy sợ hăi.”

“Sợ hăi? Sợ cái ǵ mới được chứ?”

“Anh không biết. Chỉ là cảm giác thế thôi. Cảm giác giống như ḿnh bị bỏ rơi vậy.”

“Sau đó thế nào?”

“Anh không viết thư cho cô ấy nữa.”

“C̣n cô ta th́ sao?”

“Cô ấy viết thư cho anh vài lần. Anh không viết thư trả lời. Rồi cô ấy cũng thôi. Lần cuối cùng cô ấy viết thư trách anh không hồi âm.”

“Tại sao anh không hồi âm? Nói rơ mọi chuyện với cô ta?”

“Chả tại sao cả. Anh thấy chuyện này thật vớ vẩn.”

“Chuyện ǵ vớ vẩn? Chuyện em đang hỏi anh hay chuyện anh với cô ta?”

“Tất cả mọi chuyện đều vớ vẩn.”

“Mà tại sao cô ta không ra Hà Nội gặp anh?”

“Anh làm sao biết được?”

“Biết đâu cô ta đă ra Hà Nội, đến nhà anh, rồi chỉ dám đứng từ xa nh́n anh. C̣n anh th́ chẳng nh́n thấy cô ta. Một mối t́nh đơn phương và vô vọng. Giống hệt phim của Vương Gia Vệ.”

“Thôi đi mà. Em biết là anh không thích phim của Vương Gia Vệ.”

“Th́ có sao đâu. Biết đâu bao nhiêu năm qua, cô ta vẫn âm thầm yêu anh.”

“Thôi đi.”

“Mà cũng có thể cô ta chết rồi cũng nên.”

“Cô ấy bằng tuổi anh. Chẳng có lư do ǵ để chết cả. Thôi, anh buồn ngủ lắm rồi. Toàn những chuyện không đâu.”

“Nếu cô ta chết, anh có đau khổ không?”

“Anh không biết. Thôi, anh ngủ đây.”

“Có thể cô ta tự tử. V́ thất t́nh. V́ bị anh ruồng rẫy.”

“Em làm ơn thôi đi có được không?”

“Tại sao tôi lại phải thôi?”

“Rồi. Đừng nổi nóng nữa. Th́ cứ coi như cô ấy đă chết. Được chưa nào? Có khác ǵ đâu. Bây giờ có gặp cô ta, anh cũng chẳng nhận ra. Anh chán nói chuyện này lắm rồi.”

Hai người im lặng. Họ cảm thấy bực bội. Họ nh́n ra ngoài cửa sổ. Tàu bắt đầu chuyển bánh. Người ta tắt hết đèn trên tàu. Thành phố Huế chỉ c̣n những vệt sáng mờ dần rồi biến mất. Đoàn tàu giống như một con rết khổng lồ đang trườn vào một thế giới tối tăm.

Bây giờ, người đàn ông đă ngủ say. Anh thở kḥ khè, những tiếng gừ gừ như chực thoát ra khỏi miệng. Mọi người đều đă ngủ. Chỉ c̣n lại tiếng xịch xịch của tàu hỏa. Người đàn bà không ngủ được. Chị nh́n trừng trừng vào khoảng tối trong khoang tàu, ḷng tràn ngập một xúc cảm lạ lùng chưa từng có. Chị cảm thấy rơ ràng hơn bao giờ hết rằng lúc này đây chị có thể tha thứ cho bất cứ ai về bất kỳ chuyện ǵ, rằng tất cả mọi người đều là những kẻ đáng thương, cuộc đời đă phản bội họ, phần lớn những năm tháng tuổi trẻ của họ đều đă trôi qua trong những toan tính tầm thường và ti tiện.

Gần sáng, toàn bộ hành khách trong toa bị đánh thức bởi một tiếng kêu thất thanh. H́nh như vừa xảy ra một vụ tai nạn.

Nagoya 08.2006



Lời nguyện cầu cho một thế giới hư vô

Sau khi mẹ tôi về hưu, bà trở nên mê tín đến kỳ cục. Bà có một niềm tin mănh liệt vào những sinh thể ở một thế giới khác đang điều khiển ư chí của chúng ta giống như người ta điều khiển những cỗ máy. Hàng tuần, bà và những người bạn của bà tụ tập lại, cùng đọc những bài kinh không rơ xuất xứ, có nội dung phức tạp và rối rắm đến mức tôi tin rằng trên đời này không ai có khả năng lĩnh hội được chúng. Họ nghĩ rằng bằng cách đó, họ có thể giao tiếp một cách vô thức với những sinh thể bí mật kia.

Họ muốn cha tôi tham gia vào những buổi đọc kinh ấy.

“Cũng được thôi.” Cha tôi nói. “Tuy nhiên, là một người làm công tác nghiên cứu khoa học, tôi cần có bằng chứng về sự tồn tại của cái thế giới mà các vị đang cầu nguyện. Nếu không, chẳng hóa ra chúng ta đang thờ cúng cái hư vô hay sao?”

“Tại sao bác lại nói vậy?” Họ kêu lên, giọng đầy phẫn nộ. “Làm sao thế giới ấy có thể là hư vô khi chúng tôi tin vào sự tồn tại của nó. Bản thân niềm tin ấy há chẳng phải là một bằng chứng xác thực nhất hay sao?”

Lư lẽ của họ cuối cùng đă thuyết phục được cha tôi. Ông ngồi đọc kinh cùng họ.

Ngày thứ nhất đọc kinh, ông nh́n thấy những thiên thần bay ra từ cuốn sách kinh, lượn trên mái nhà của chúng tôi và cười ha ha.

Ngày đọc kinh thứ hai, những thiên thần nhảy múa xung quanh ông và th́ thầm vào tai ông những lời tục tĩu.

Ngày thứ ba, những thiên thần nói những điều ǵ đó mà ông không thể hiểu nổi, rồi bọn chúng khóc hu hu. Chỉ đến khi đó, cha tôi mới nhận ra rằng người ta đang đọc kinh cầu cho linh hồn ông được siêu thoát.

Nagoya 12.2006



Ác mộng

Đêm qua, tôi mơ một giấc mơ khủng khiếp. Người ta ban cho tôi một thứ quyền năng gần như tuyệt đối để tôi có thể thực hiện bất cứ việc ǵ. “Tuy nhiên, họ nói, quyền năng này chỉ đạt đến mức gần như tuyệt đối bởi lẽ có một điều duy nhất mà anh không bao giờ được phép làm, đó là tỉnh dậy khỏi giấc mơ.”

Nagoya 12.2006



Cây thích

Bây giờ đang là mùa thu. Chúng tôi đi dọc bên bờ sông, lẫn vào đoàn người ngắm lá đỏ. Những cây thích nằm cô đơn bên sườn núi, nh́n từ xa chúng giống như những đám lửa.

“Chúng ta phải chia tay thôi.” Nàng nói. “Nh́n cây thích, em hiểu rằng t́nh yêu của chúng ta không thể tồn tại trong cái thế giới đầy bất trắc này.”

Tôi không nói ǵ, nói ǵ lúc này cũng vô ích, bởi bây giờ đang là mùa thu, cây thích sắp rụng lá, nàng cảm thấy tuyệt vọng.

Nagoya 12.2006



Chín giờ tối thứ Hai

Tâm nhận được một mẩu giấy trên đó có ghi “Chín giờ tối thứ Hai”. Sau khi suy nghĩ rất kỹ, cân nhắc tất cả các khả năng có thể, đồng thời tham khảo ư kiến rất nhiều người, Tâm đi đến kết luận rằng thông điệp này chỉ có thể là một điềm báo về một biến cố quan trọng sẽ xảy đến với anh vào lúc chín giờ tối thứ Hai.

Từ đó trở đi, anh luôn ở trong tâm thế chờ đợi một điều ǵ đó rất đặc biệt sẽ đến vào lúc chín giờ tối thứ Hai. Sau rất nhiều năm chờ đợi, một ngày kia, Tâm cảm thấy quá mệt mỏi, anh không c̣n có thể chịu đựng nổi cái cảm giác chờ đợi vô vọng ấy nữa và do đó, anh quyết định rằng nếu tuần tới vẫn không có ǵ thay đổi th́ khi đó anh sẽ tự kết liễu đời ḿnh vào lúc chín giờ tối thứ Hai.

Nagoya 12.2006



Người điểm tin


Nh́n bề ngoài, Đinh Hoài Viễn không giống như một người đă có gia đ́nh mặc dù anh đă ba mươi tư tuổi, hiện sống cùng một vợ và hai con gái trong một căn hộ đi thuê ở khu tập thể Thành Công. Khi bộ râu quai nón được cạo nhẵn nhụi, anh có một khuôn mặt hoàn toàn trẻ thơ.

Đinh Hoài Viễn viết những bài điểm tin cho một tờ báo lá cải. Anh viết về rất nhiều sự kiện trong đời sống của chúng ta. Một vụ hiếp dâm tàn bạo trong rừng cao su mà nạn nhân là một nữ công nhân vừa tṛn hai mươi mốt tuổi; một ca nạo thai của một nữ sinh học lớp chín; vụ tự tử của một tay cá độ bóng đá; một má ḿ vừa bị công an bắt, ả quản lư khoảng hơn bốn chục gái mại dâm, những thanh nữ mà ả miêu tả là “sắc nước hương trời”; một tay giám đốc bị cách chức v́ đă làm tṛ đồi bại với hai chị em ruột (một trong số đó là thư kư của ông ta); một thầy giáo quấy rối t́nh dục nữ đồng nghiệp, vụ việc vỡ lở khi ông này bị một học sinh nam đánh ghen; một gă thanh niên mười bảy tuổi dùng dây thừng xiết cổ bà mẹ nuôi v́ bà ta quá lắm lời; một cô gái bị liệt bẩm sinh đă chết v́ đói sau cái chết của bà mẹ, nguồn sống duy nhất của hai mẹ con họ là từ số tiền đi nhặt lon bia hàng ngày của bà mẹ (cảnh sát c̣n t́m thấy cuốn nhật kư ghi lại những ngày tháng cuối cùng của cô gái tội nghiệp đó, điều kỳ quặc là cuốn nhật kư được viết bằng một giọng văn hết sức khôi hài), một bà mẹ bị bắt v́ đă nhốt đứa con của ḿnh trong một căn gác xép suốt mười lăm năm trời kể từ khi nó bốn tuổi, thứ duy nhất giúp thằng bé liên hệ với thế giới bên ngoài là một cái lỗ nhỏ, nh́n qua đó nó có thể thấy một phần của bầu trời, khi cảnh sát t́m thấy thằng bé, tầm vóc của nó chỉ tương đương với một đứa trẻ lên mười và khối lượng từ vựng của nó chỉ khoảng trên dưới năm mươi từ trong đó những từ quan trọng nhất gồm có: “ăn”, “ị”, “ngủ”, “mưa”, “nắng” và “mây”.

Cho dù những sự kiện ấy có kinh hoàng đến mức nào th́ nhờ vào lối hành văn đầy phóng túng nhưng vẫn giữ được một kết cấu chặt chẽ cũng như độ xúc tích cần thiết cho một bài điểm tin, chúng vẫn mang một vẻ đẹp lăng mạn không ai lường trước được. Ai đă từng đọc những bài điểm tin ấy mà lại không cảm thấy kinh ngạc đến thẫn thờ, một cảm giác giống như người ta vừa t́m thấy ḍng chảy u hoài của một kư ức học tṛ xa xăm nào đó mà họ đă đánh mất từ lâu.

Đinh Hoài Viễn tin rằng bằng cách viết những bài điểm tin như thế anh sẽ tạo ra được mối liên hệ sâu sắc giữa đời sống thường ngày và thế giới nghệ thuật. Khi được hỏi về nghề nghiệp của ḿnh, bao giờ anh ta cũng trả lời hết sức hănh diện:

“Tôi là người khắc những đường viền lên bức tranh khảm lịch sử của thời đại chúng ta.”

Nếu so sánh lối nói dụ ngôn khoa trương mà rỗng tuếch ấy của Đinh Hoài Viễn với những bản tin viết bằng một thứ ngôn ngữ giản dị, mềm mại như những cánh bướm mùa xuân th́ quả là buồn cười.

Nagoya 01.2007

Top
Guest
Posted: Jul 24 2007, 10:56 AM


Unregistered









Thông tin về tác giả, nếu bạn quan tâm

Nguyễn Nguyên Phước sinh năm 1976 tại Hà Nội. Tốt nghiệp Đại học (chuyên ngành Điện tử-Viễn thông) và Cao học (chuyên ngành Khoa học Vật liệu) tại Đại học Bách Khoa Hà Nội. Tốt nghiệp Tiến sĩ chuyên ngành Khoa học Vật liệu, Học viện Công nghệ Toyota (Toyota Technological Institute), Nagoya, Nhật Bản. Hiện sống và làm việc tại Nhật Bản.
Top
« Next Oldest | Tác phẩm yêu thích | Next Newest »
DealsFor.me - The best sales, coupons, and discounts for you

Topic Options



Hosted for free by InvisionFree* (Terms of Use: Updated 2/10/2010) | Powered by Invision Power Board v1.3 Final © 2003 IPS, Inc.
Page creation time: 0.1058 seconds | Archive