| · Lưu ư trước khi post bài · Portal |
Help
Search
Members
Calendar
|
| Welcome Guest ( Log In | Register ) | Resend Validation Email |
| Welcome to Phongdiepnet. We hope you enjoy your visit. You're currently viewing our forum as a guest. This means you are limited to certain areas of the board and there are some features you can't use. If you join our community, you'll be able to access member-only sections, and use many member-only features such as customizing your profile, sending personal messages, and voting in polls. Registration is simple, fast, and completely free. Join our community! If you're already a member please log in to your account to access all of our features: |
![]() ![]() ![]() |
| meonho |
Posted: Apr 1 2008, 08:47 AM
|
|
Thành viên tích cực Group: Thành viên tích cực Posts: 31 Member No.: 24 Joined: 24-August 07 |
Luận bàn về “phát hiện lịch sử chấn động”
của ông Lê Mạnh Thát Nguyễn Ḥa 1. Cách đây 8 năm, dư luận đă một lần kinh ngạc khi thấy cuốn sách Huyền thoại hay sự thật cội nguồn cha Rồng mẹ Tiên của Vơ Trọng Thái ra mắt tại NXB Văn hóa dân tộc. Dư luận kinh ngạc v́ từ mấy nghiên cứu hết sức kỳ quái, Vơ Trọng Thái đă đi tới một số kết luận hết sức kỳ quặc, như khẳng định kinh đô nước Xích Qủy là ở làng Vân Nội (xă Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây), xă Phú Lương cũng là nơi có lăng mộ các Vua Hùng; Hai Bà Trưng vốn thuộc ḍng họ Lê Đĩnh (Thục Phán) nên Trưng Trắc tên thật là Lê Thị Hồng Hưng, Trưng Nhị tên thật là Lê Thị Hồng Hà (!)… Những tưởng cùng với thời gian, các sản phẩm “nghiên cứu” như của Vơ Trọng Thái sẽ không c̣n đất dung thân trong sinh hoạt học thuật, vậy mà vừa qua, dư luận lại một lần nữa xôn xao về cuốn Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta của Lê Mạnh Thát - một cuốn sách mà tôi rất nghi ngờ về phẩm chất khoa học. Và điều đáng nói là, dù đă xuất bản từ năm 1972, gần đây là năm 2006, song Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta của Lê Mạnh Thát vẫn không một tiếng vang trong sinh hoạt khoa học, ấy rồi nó lại được chú ư sau khi bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động của Hoàng Hải Vân được đăng tải trên báo Thanh Niên. Theo tôi, việc cuốn sách của Lê Mạnh Thát không có tiếng vang trong sinh hoạt khoa học chỉ nên giải thích từ giá trị của nó, không nên cho rằng bạn đọc và giới nghiên cứu không có khả năng tiếp nhận hay lảng tránh “phát hiện” của ông. Hơn nữa, vấn đề c̣n là trước khi đồng t́nh hay bác bỏ, mỗi người cần tiếp nhận trực tiếp từ cuốn sách của Lê Mạnh Thát, chứ không chỉ tiếp nhận qua bài viết của Hoàng Hải Vân. Bởi dù thế nào th́ “phát hiện” của Lê Mạnh Thát cũng đă đi qua “lăng kính” của Hoàng Hải Vân với tất cả niềm hứng khởi của tác giả này (?). Đáng tiếc là hầu như các ư kiến đă công bố để đánh giá “phát hiện” của Lê Mạnh Thát đều chủ yếu dựa trên bài viết của Hoàng Hải Vân và theo xét đoán của tôi, ngoài Trương Thái Du, có lẽ chưa có tác giả nào đă trực tiếp đọc Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta. Phải chăng v́ thế, không tính đến một vài ư kiến ca ngợi, dù là ư kiến phản bác th́ tác giả vẫn phải “gài” vào phát biểu của ḿnh một số ngôn từ để thể hiện thái độ trân trọng (thận trọng?) và ư niệm “phát hiện” vẫn được tŕnh bày như là muốn đảm bảo cho tinh thần khách quan. Bên cạnh đó, đọc các ư kiến, tôi nhận thấy hầu hết đều bị cuốn theo xu hướng tranh biện với những dẫn liệu sử học, văn học, Phật học do ông Lê Mạnh Thát đưa ra mà chưa chú ư tới một điều cực kỳ quan thiết là khi đánh giá một công tŕnh nghiên cứu phải xem xét tiền đề khoa học của nó - tức là xem xét điểm xuất phát để từ đó tác giả tiến hành công tŕnh. Nói cách khác, muốn khảo sát và đánh giá một công tŕnh nghiên cứu, trước hết phải bắt đầu từ giả thuyết khoa học chứ không chỉ bắt đầu từ các kết luận mà nó đưa lại. Bởi, nếu giả thuyết chỉ là ư tưởng “giả khoa học” th́ dẫn liệu dù phong phú đến đâu, tác giả dù thông thái, uyên thâm đến mức độ nào th́ kết quả nghiên cứu của anh ta vẫn chỉ là một (các) hư cấu chủ quan, nếu không nói là vô nghĩa. Do không có trong tay bản in cuốn Lịch sử Phật giáo Việt Nam (tập 1) của Lê Mạnh Thát, tôi đành bằng ḷng với việc đọc cuốn sách này qua bản điện tử của website quangduc.com (1). Đọc Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát, đối chiếu với Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta rất dễ nhận ra Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta chỉ là “dị bản”, chính xác hơn chỉ là bản “thu nhỏ” những nội dung tương tự đă được tŕnh bày trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Các ư tưởng, tài liệu Lê Mạnh Thát sử dụng trong Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta đều có mặt trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam. T́nh huống ấy làm cho tôi muốn đặt câu hỏi: Dù Lê Mạnh Thát đă cố gắng tŕnh bày trong hai cuốn sách khác nhau về cùng một vấn đề nhưng vẫn không được chú ư, và Hoàng Hải Vân đă “có công lao” làm cho các ư tưởng của Lê Mạnh Thát trở thành tâm điểm của dư luận trong thời gian gần đây? Về phần ḿnh, tuy đă đọc Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát, song để bài viết này tập trung vào vấn đề muốn đề cập, nên tôi chỉ bàn tới Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta, bài báo của Hoàng Hải Vân cùng một hai ư kiến có liên quan. Hy vọng vào một ngày đẹp trời nào đó, tôi sẽ trở lại với Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát để phân tích kỹ hơn các lập luận ông đă tŕnh bày. 2. Dựa trên các tiền đề sách vở do ông “phát hiện”, gồm: truyền thuyết trăm trứng liên quan tới Lạc Long Quân - Âu Cơ từng được ghi lại trong Lục độ tập kinh - một bộ kinh Phật; truyền thuyết về An Dương Vương chỉ là dị bản mô phỏng trận đánh giữa anh em Pandu và Duryodhana đă được kể lại trong Mahabharata - một sử thi Ấn Độ, Lê Mạnh Thát đă triển khai suy luận và truy lùng văn bản vừa để chứng minh, vừa để đưa ra các kết luận đại loại như: văn bản Lục độ tập kinh mà Khương Tăng Hội sử dụng để dịch sang tiếng Hán vốn là bản tiếng Việt chứ không phải một bản tiếng Phạn; Triệu Đà chưa từng xâm lược Việt Nam nên thời đại của An Dương Vương chỉ là hư cấu lịch sử; triều đại Hùng Vương kéo dài tới năm 43 sau công nguyên, triều đại này rất phát triển, có chữ viết riêng, có luật pháp riêng, và sự nghiệp của Hai Bà Trưng là vương triều cuối cùng của triều đại Hùng Vương chứ không phải là một cuộc khởi nghĩa… Vậy là từ một hai chi tiết, Lê Mạnh Thát đă phóng đại chúng lên làm mẫu nghiên cứu theo kiểu “chọn giầy”, rồi chứng minh theo lối “gọt chân”, cái ǵ phù hợp với suy đoán th́ ông OK, cái ǵ không phù hợp với suy đoán th́ ông gạt phắt ra ngoài hoặc chụp cho cái mũ… “không đáng tin cậy”! Theo tôi, đây chính là điều cần phê phán nhất trong “nghiên cứu” của Lê Mạnh Thát, bởi từ một chi tiết có vai tṛ dẫn truyện trong Lục độ tập kinh, ông không chỉ suy đoán, mà c̣n dựa vào đó để đưa ra một loạt khẳng định với tâm thế rất tự tin. Thiển nghĩ, hoặc là Lê Mạnh Thát không nắm được các nguyên tắc của nghiên cứu khoa học, hoặc là ông có điều bất thường về tư duy, hoặc là mấy ngh́n năm nay Phật giới Việt Nam và Trung Hoa đă “vô minh” đến mức tin tưởng, chấp nhận, rồi đề cao một tập kinh Phật mà trong đó “chứa đựng “một lượng bất b́nh thường” các tư tưởng, quan điểm và đạo lư mang sắc thái chính trị và lịch sử Việt Nam”(2). Theo xét đoán của ông Lê Mạnh Thát: “không phải Khương Tăng Hội đă viết Lục độ tập kinh, mà do Hội đă dịch nó theo một bản tiếng Việt” (3) và “Khương Tăng Hội, khi tiến hành phiên dịch Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc, đă chịu không những tác động của tiếng mẹ đẻ, mà c̣n chịu tác động trực tiếp của nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt…” (4), th́ ngược về thời gian và hoàn cảnh lịch sử để truy nguyên văn bản, sẽ xuất hiện ba khả năng trực tiếp liên quan tới kết luận của ông mà tôi đồ rằng, dẫu Lê Mạnh Thát có “ba đầu sáu tay” cũng không thể giải quyết được: - Một: Nếu bản Lục độ tập kinh bằng tiếng Việt mà Khương Tăng Hội sử dụng vốn được dịch từ một bản tiếng Phạn th́ phải chăng mấy ngh́n năm trước ở bên Ấn Độ xa xôi lại có người tỷ mẩn ghi chép giúp tổ tiên chúng ta một cuốn lịch sử về nguồn gốc dân tộc bằng tiếng Phạn, rồi ai đó đă dịch từ bản tiếng Phạn sang tiếng Việt, và Khương Tăng Hội dựa vào bản tiếng Việt này để dịch sang tiếng Hán hay sao? V́ sự ḷng ṿng ấy chưa từng thấy có tiền lệ, nên tôi đặt câu hỏi và xin trả lời luôn: đây là điều bất khả. Không chỉ về khoảng cách địa lư, mà cả về các quan hệ kinh tế - văn hóa, liệu cách đây hơn 2000 năm, giữa Việt Nam và Ấn Độ đă có quan hệ văn hóa mật thiết đến mức một sự kiện quan trọng như trên lại có thể xảy ra, và liệu Lê Mạnh Thát có thể chứng minh? Nếu không chứng minh được, “phát hiện” của ông, rốt cục sẽ chỉ là sự vơ đoán tùy tiện, không thể hiện diện trong nghiên cứu khoa học. - Hai: Nếu t́nh huống trên không xảy ra th́ chẳng lẽ khi dịch Lục độ tập kinh sang tiếng Hán từ một bản tiếng Việt nào đó, Khương Tăng Hội đă tranh thủ thêm thắt một số ghi chép về lịch sử dân tộc Việt Nam, để rồi bao nhiêu đời cao tăng, học giả Việt Nam và Trung Quốc mấy ngh́n năm qua đă không phát hiện ra? Đây là vấn đề Lê Mạnh Thát cần lư giải, một câu hỏi Lê Mạnh Thát cần trả lời nếu ông muốn chứng minh “phát hiện” của ông là chính xác. Xin nói luôn đây cũng là một điều bất khả, v́ một cuốn kinh sách và lịch sử của một dân tộc có thể có mối liên hệ nào đó, song không thể đồng nhất, v́ sự ra đời của kinh sách trước hết, không phải là để viết lịch sử. - Ba: Như là hệ quả của vấn đề thứ hai tôi đưa ra ở trên, nếu bản gốc Lục độ tập kinh do người Việt viết bằng chữ của người Việt th́ chí ít Lê Mạnh Thát cũng phải minh định được chữ viết của người Việt vào thời đó ra sao, phải chứng minh được rằng trước và sau công nguyên Phật giáo Việt Nam đă rất phát triển, v́ phải đạt tới một tŕnh độ nào đó, các cao tăng Việt Nam mới có thể viết được kinh sách. Và nếu đó là sự thật th́ các cao tăng Việt Nam xưa kia xứng đáng phải được lưu danh vào lịch sử Phật giáo, bởi họ đă viết được một tập kinh trứ danh đến mức Phật giáo phải đưa vào Đại tạng tập kinh, vậy mà đến nay tên tuổi của họ vẫn vắng bóng, chẳng lẽ Phật giới Việt Nam và Trung Quốc đă vội lăng quên họ? Tôi đặt ra khả năng thứ ba nhằm hài hước hóa vấn đề, nên không đề nghị Lê Mạnh Thát trả lời. Bởi riêng chuyện gán cho Lục độ tập kinh có quan hệ với lịch sử Việt Nam thôi, cũng đă là một điều kỳ dị không nên bắt bẻ. Tôi tin là các câu hỏi về nguồn gốc văn bản tôi đặt ra trên đây hoàn toàn không có mặt trong thao tác nghiên cứu của ông Lê Mạnh Thát khi euréka ra các “phát hiện lịch sử chấn động”. Và dưới đây, tôi sẽ chứng minh ông đă sai lầm như thế nào. 3. Đọc câu chuyện trong Lục độ tập kinh (3 ĐTK 251 tờ 14a26-c18) do Lê Mạnh Thát dẫn lại, dù không phải là người làm công việc nghiên cứu Phật học, tôi cũng nhận ra đó là một dẫn dụ về “đốn ngộ” mà cái bọc trăm trứng có vai tṛ dựng truyện. Ấy là sau khi một trăm người con sinh ra từ một trăm quả trứng kéo quân về đánh chiếm kinh thành của vua cha mà họ không biết đó là vua cha, bà mẹ của họ đứng trên cḥi nói với những đứa con của bà: “Rằng đại nghịch tội đó, gồm có ba: Không xa bọn tà, chuốc tội đời sau, đấy là tội thứ nhất. Sinh ra mà không biết cha mẹ, lại đi ngược lại hiếu hạnh, đấy là tội thứ hai. Ỷ sức mà giết cha mẹ, làm hại Tam bảo, đấy là tội thứ ba. Giữ ba điều đại nghịch ấy, ác không lấy ǵ che được. Chúng mày hăy hả miệng th́ chứng cứ hiện ngay”. Bà mẹ liền lấy vú ḿnh ra, trời khiến nó bắn sữa khắp cả miệng một trăm đứa con. Cảm thấy sự tinh thành, chúng uống sữa, ḷng buồn, nên đồng thanh nói: “Đây là cha mẹ ta”. Nước mắt chảy lan cả hai má, chúng chắp tay đi tới, cúi đầu hối lỗi…” (5). Giọt sữa của bà mẹ đă đưa các con bà ra khỏi chốn “vô minh”, giúp họ tỉnh ngộ, nhận ra điều trái với đạo hiếu không được làm. So sánh chuyện này với truyền thuyết về Lạc Long Quân - Âu Cơ th́ ngoài cái bọc trăm trứng, giữa chúng không có bất cứ liên hệ nào. Một bên là minh chứng cho khả năng “đốn ngộ”, một bên là truyền thuyết về ṇi giống và quá tŕnh xây dựng cộng đồng, mở mang bờ cơi, tính mục đích hoàn toàn khác nhau. “Vớ” được sự gần gũi trong chi tiết một trăm quả trứng nở ra một trăm chàng trai, Lê Mạnh Thát vội vàng quả quyết: “Và chính đây là chi tiết mà nó giúp ta xác định thời gian xuất hiện và nguồn gốc khai sinh truyền thuyết về lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta” (6) th́ ông đă lộ ra điểm yếu cốt tử mà tôi sẽ chứng minh tiếp ở phần sau. Ở đây chỉ xin nói rằng, chỉ v́ câu chuyện trong Lục độ tập kinh và truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ cùng đề cập tới cái bọc trăm trứng mà đă vội coi cái này chính là nguyên gốc của cái kia th́ trí tưởng tượng đúng là… “hơi bị phi phàm”. Cứ xét đoán khơi khơi như Lê Mạnh Thát th́ trên đời này sẽ có vô khối chuyện khôi hài (C̣n nữa) |
| meonho |
Posted: Apr 1 2008, 08:50 AM
|
|
Thành viên tích cực Group: Thành viên tích cực Posts: 31 Member No.: 24 Joined: 24-August 07 |
Tiếp theo Tương tự như thế, việc Lê Mạnh Thát t́m ra mối liên hệ giữa Mahabharata với truyền thuyết An Dương Vương theo tôi cũng là khảo chứng tư biện, nếu không nói ông đă tùy tiện xác lập một quan hệ. Tôi lại tự hỏi: liệu Lê Mạnh Thát có thể chứng minh quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đă mật thiết từ đầu công nguyên hay không? V́ để một tác phẩm thấm đẫm tinh thần Ấn Độ giáo, được coi là Đại bách khoa toàn thư về văn hóa truyền thống, về các truyền thuyết và thể chế chính trị - xă hội của Ấn Độ cổ xưa như sử thi Mahabharata có thể thấm sâu vào đời sống tinh thần của người Việt Nam, để người Việt Nam có thể vay mượn từ đó một câu chuyện rồi xây dựng nên một truyền thuyết, hẳn là Mahabharata phải được du nhập, được dịch và được phổ biến ngay từ trước hoặc sau công nguyên. Cũng là điều lạ lùng, trong Mahabharata có bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu truyền thuyết mà tại sao người Việt không vay mượn một cách phổ biến, mà chỉ nhè vào chuyện Duryodhana để xây dựng truyền thuyết An Dương Vương, liệu Lê Mạnh Thát có thể giải thích được không. Cũng xin lưu ư, Mahabharata không chỉ là một sử thi, nó c̣n quan hệ mật thiết với Ấn Độ giáo, v́ trong đó chứa đựng Bhagavad Gita (một kinh văn quan trọng của Ấn Độ giáo), nếu ông cho rằng Mahabharata đă có mặt trên dưới 2000 năm ở Việt Nam, ông có thể lư giải tại sao trong văn hóa Việt Nam cả ngh́n năm nay, yếu tố Ấn Độ giáo lại rất mờ nhạt? Hỏi th́ hỏi vậy, chứ thật t́nh tôi cũng tin đây là t́nh huống bất khả. Với cái nh́n phổ quát và thấu đáo, người sáng suốt sẽ không bao giờ chăm chăm dựa vào một chi tiết giống nhau “An Dương Vương cưỡi con tê sống vằn vào nước chạy, nước v́ thế rẽ ra” (7) với chi tiết “Với kiếm chùy trong tay, đấng ấy (Duryodhana - NH) đă nhanh bỏ chiến trường và đi vào một cái hồ, sau khi làm cho nước rẽ ra nhờ vào huyễn thuật của ḿnh” (8) để quả quyết: “Việc Duryodhana có thể làm cho nước rẽ ra để ông đi vào này đương nhiên ám chỉ một cách khá chắc chắn nguồn gốc đi vào nước của An Dương Vương” (9). Nhưng biết làm sao được, khi mà ông Lê Mạnh Thát dường như đă định h́nh phong cách suy đoán tư biện rồi kết luận khơi khơi trong thực hành “nghiên cứu”! Tóm lại, khi nghiên cứu một vấn đề lịch sử nào đó, bao giờ người ta cũng cần tới các chứng cứ lịch sử (trong đó, ngoài các văn bản xác thực đă được truy nguyên đến rốt ráo, c̣n có các bằng chứng khảo cổ…), v́ thế người nghiên cứu không thể nuôi dưỡng vấn đề bằng trí tưởng tượng. Mặt khác, thao tác lấy chi tiết thay cho toàn thể, lấy cá biệt thay cho phổ biến… là thao tác hết sức nguy hiểm trong nghiên cứu, v́ sẽ đẩy người ta đến các ngộ nhận làm nhiễu loạn sinh hoạt khoa học, tạo ra hiện trường giả làm rối trí người đọc. V́ thế tôi cho rằng, hai tiền đề giúp Lê Mạnh Thát “nghiên cứu” đích thực là hai giả tiền đề, phi thực tế. Nên tôi tin các câu hỏi tôi đặt ra ở trên là các câu hỏi Lê Mạnh Thát không thể trả lời, đó là lư do để tôi kết luận “phát hiện” của ông chỉ là kết quả của sự vơ đoán. 4. Sai lầm cơ bản của ông Lê Mạnh Thát khi đưa ra “phát hiện” của ḿnh, theo tôi có nguồn gốc từ việc ông không cần quan tâm (hay bất chấp?) một trong các đặc điểm quan trọng của văn hóa dân gian là tính phổ biến của nhiều mô-tip văn chương trong văn hóa dân gian của các cộng đồng, cùng như quá tŕnh “dân gian hóa” một số truyền thuyết vốn được tŕnh bày trong kinh sách của các tôn giáo. Văn hóa dân gian của các cộng đồng có thể nảy sinh sớm - muộn khác nhau, các cộng đồng có thể rất xa nhau về địa lư, chưa bao giờ tiếp xúc, không có bất kỳ một mối liên hệ nào, th́ trong hoàn cảnh tương tự của quá tŕnh phát sinh và phát triển nhận thức, các cộng đồng đă nảy sinh các ư tưởng rất gần gũi nhau để đáp ứng nhu cầu giải thích về thế giới, xă hội, con người. Như huyền thoại về quả bầu chẳng hạn, theo thống kê của GS Đặng Nghiêm Vạn (10), ở Đông Nam Á, trong số 95 dị bản về hồng thủy, có tới 65 dị bản liên quan tới quả bầu với ư nghĩa là phương tiện cứu giúp con người khỏi họa diệt chủng. Sự gần gũi về nhận thức, sự gần gũi khi suy tư về thế giới - xă hội - con người, sự giao lưu văn hóa trong điều kiện cụ thể… đă đưa tới sự ra đời các mô-tip văn chương dân gian, điều đó làm cho việc truy nguyên một “mẫu gốc” là bất khả. Tỷ như chúng ta thấy mô-tip quan hệ d́ ghẻ - con chồng xuất hiện trong văn chương dân gian của nhiều cộng đồng khác nhau, như: Tấm cám của người Việt, Cô bé lọ lem của người Đức, Cô chị - Cô em (Ư Ưởi - Ư Nọng) của người Thái, Nàng Chăn Tha của người Lào… (Ngay ở thời hiện đại, một sự kiện như vậy vẫn có thể xảy ra, như sự giống nhau đến kỳ lạ giữa tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng với tiểu thuyết Đường công danh của Nikôđem Đizma của Tadeusz Dolega Mostowicz - nhà văn người Ba Lan). Không nắm được đặc điểm này, Lê Mạnh Thát mới đi làm cái việc “vơ” câu chuyện trăm trứng về cho người Việt Nam, dẫu rằng khi khảo sát, chính ông cũng đă thấy mô-tip người sinh ra từ trứng, người sinh ra từ bọc thịt là khá phổ biến! Để hợp thức hóa những suy biện chủ quan của ḿnh trong xử lư tài liệu, ông Lê Mạnh Thát khẳng định xanh rờn: “chúng ta không c̣n bàn căi một cách tùy tiện không có cơ sở về nền văn học “dân gian” chung chung phi thời gian, phi lịch sử” (11). Như vậy theo Lê Mạnh Thát, mọi sản phẩm văn hóa dân gian đều có thể “cụ thể hóa”, đều có thể truy nguyên thời gian lịch sử chăng? Mong sao vào một ngày rảnh rỗi nào đó, Lê Mạnh Thát sẽ truy nguyên toàn bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam do cụ Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, đặng giúp một người đọc ngu ngơ như tôi nắm bắt được thời gian ra đời của từng truyện một cách thật cụ thể nhỉ! Rồi nữa, bằng vào marketing của Hoàng Hải Vân, th́ Lê Mạnh Thát công bố ông đă t́m thấy trong Đại tạng kinh sáu lá thư trao đổi giữa pháp sư Đạo Cao và pháp sư Pháp Minh với một “sứ quân” Giao Châu tên là Lư Miễu. Truy lùng tài liệu từ Trung Quốc, Việt Nam sang Triều Tiên và Nhật Bản, thậm chí lùng sục trong tàng thư các nước Anh, Pháp, Liên Xô mà không t́m thấy nhân vật nào có tên là Đạo Cao, cuối cùng Lê Mạnh Thát kết luận… Đạo Cao là người Việt Nam. Tương tự như thế với “sứ quân” Lư Miễu, do không t́m được văn bản nào đề cập tới nhân vật này, rút cục Lê Mạnh Thát cũng đi tới kết luận… “Lư Miễu chính là một vị vua của Việt Nam”! Vấn đề này trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam được Lê Mạnh Thát tŕnh bày khá dài ḍng và rối rắm, để thuận tiện theo dơi, xin được dẫn lại theo Hoàng Hải Vân, song tôi vẫn muốn dẫn ra một đoạn từ Lịch sử Phật giáo Việt Nam để bạn đọc được bổ sung thêm tài liệu về cách thức suy đoán của Lê Mạnh Thát. Chẳng là, để chứng minh Lư Miễu đích thị là một ông vua của Việt Nam, sau khi đặt ra hai giả thuyết và tự bác bỏ, Lê Mạnh Thát đưa ra giả thuyết thứ ba và biện luận: “đấy là giả thiết sự thêm thắt của Tăng Hựu hay một người có ư thức chính trị Trung Quốc nào đó, và nó có thể xảy ra như sau. Từ nguyên ủy những lá thư của Đạo Cao và Pháp minh rất có thể chỉ xưng Lư Miễu như “quân” hay “quân vương”. Đến khi chúng lọt vào tay những người Trung Quốc, họ liền thên vào chữ “sứ” trước chữ “quân” và lặt chữ “vương” đi, đưa đến sự xuất hiện cái anh hiệu “sứ quân”, trong khi lá thư vẫn tiếp tục nói đến chuyện “cư đại bảo chi địa” và “thổ ác dư hà” của Lư Miễu. Nói cách thứ ba này là tương đối thoả măn nhất, bởi v́ nó không cho phép hiểu câu “cư đại bảo chi địa” và t́nh h́nh chính trị nước ta ở thế kỷ V một cách dễ dàng, mà c̣n để lộ ra một phần nào thái độ chính trị và cảm thức chính trị của dân ta trong thế kỷ ấy. Đấy là tiếp tục gọi lănh tụ của ḿnh là thiên tử, dù ông chỉ là thứ sử hay thái thú trong các sử sách Trung Quốc, và từ đó để lộ thêm nguồn gốc Việt Nam của những lá thư” (12). Xét đoán như thế xong, Lê Mạnh Thát dùng phép loại suy để đi đến kết luận 6 bức thư qua lại giữa Đạo Cao và Pháp Minh với Lư Miễu được viết vào “khoảng năm 435”. Rồi từ đó suy đoán tiếp: vào khoảng năm 435 mà nước Việt Nam vẫn có một ông vua th́ cũng có nghĩa là không có thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất. Ô hay, chẳng nhẽ mọi sự lại đơn giản đến như vậy hay sao? 5. Lại nhớ trên Tạp chí Văn học (số 5 năm 2002), PGS TS Nguyễn Hữu Sơn đă công bố bài viết có nhan đề Mấy vấn đề đặt ra từ Nghiên cứu về “Thiền uyển tập anh”, bài viết có nội dung giới thiệu cuốn sách Nghiên cứu về Thiền uyển Thiền uyển tập anh của Lê Mạnh Thát. Đọc bài này tôi nhận ra, dù trân trọng nghiên cứu của ông Lê Mạnh Thát về Thiền uyển tập anh, dù dành cho công tŕnh một số nhận xét ưu ái, nhưng hẳn là PGS TS Nguyễn Hữu Sơn cũng đặng chẳng đừng khi phải ṣng phẳng nhận xét về các suy biện chủ quan mà Lê Mạnh Thát thể hiện trong công tŕnh: - “Ở đây, theo chúng tôi, trong t́nh h́nh chưa thể truy t́m được văn bản nguồn gốc th́ tất cả những lập luận, suy luận, suy diễn, nói khác đi, nếu không đi nữa, dẫu sao (chữ dùng của LMT)... trước sau cũng mới chỉ là những đoán định đặt trong chiều hướng, xu thế, khả năng, đ̣i hỏi cần được t́m hiểu thêm”. - “Tuy nhiên, với trường hợp “truyền bản đời Lê sơ”, trên cơ sở cứ liệu việc biên soạn lại Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái, tác giả đi đến kết luận: “Điều này chứng tỏ Thiền uyển tập anh lưu truyền khá phổ biến vào đời Lê sơ, tức khoảng trong những năm 1448 - 1466...” (tr.32), song thực chất cũng chỉ là kết luận ngoại suy. Nó chỉ chứng tỏ kiến văn uyên bác và khả năng suy tưởng sâu sắc nơi người viết, nhưng do điều kiện tư liệu và bản thân tính phức tạp của đối tượng nghiên cứu qui định nên các kết luận trên vẫn chỉ là ngoại suy (tất nhiên là ngoại suy của một học giả tŕnh độ bậc thầy), chứ chưa phải đă đưa lại kết quả học thuật minh chứng hiển nhiên”. - “Để đi tới những kết luận giả định này, người viết đă vận dụng vốn kiến thức vô cùng sâu rộng, từ đó góp phần khơi mở những định hướng nghiên cứu mới mẻ (đơn cử như việc đề xuất việc khảo sát thực địa xă Nguyệt Áng - nơi có tháp Kim Sơn - vốn thuộc tổng Phù Lưu, huyện An Lăo, phủ Kim Môn, tỉnh Hải Dương cũ). Có điều, những suy đoán dù thông tuệ chặt chẽ bao nhiêu cũng đành dừng lại ở mức độ có khả năng, chưa thể là kết luận cuối cùng”… Xem ra nhận xét của Nguyễn Hữu Sơn đối với cung cách làm việc của Lê Mạnh Thát trong Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh cũng không khác với nhận xét của tôi về cung cách làm việc của Lê Mạnh Thát trong Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta. Đọc cuốn sách, có thể tiếp cận với vô số suy đoán kỳ khôi, vô số biện giải kỳ tài. Tỷ như, để hoàn chỉnh kết luận của ông rằng truyền thuyết An Dương Vương chỉ là vay mượn từ Mahabharata, từ góc độ ngôn ngữ, Lê Mạnh Thát giải thích nguồn gốc tên gọi Thục Phán như sau: “Chữ Pandu này, nếu cứ vào thông lệ phát âm của người nước ta, có thể phát thành “phan thu”… Cái tên Phán của con vua Thục chắc chắn đă phải là phiên âm chữ Pandu, tên người cha của Yudhisthira” (13)! Hay Lê Mạnh Thát coi Cao Lỗ - tương truyền là người giúp An Dương Vương làm ra “nỏ thần”, chính là nhân vật Krsna trong sử thi Mahabharata, và ông diễn giải: “Tiếng Phạn viết nó như Krsna, mà nếu phát âm, sẽ đọc như Kà rớt sờ na. Chỉ cần nh́n phát âm ấy, ta tất có thể thấy tên Cao Lỗ đă xuất phát từ đâu. Nó chắc hẳn là phiên âm hai ngữ phận đầu Krsna của người nước ta” (14), tức là Kà rớt được đọc thành Cao Lỗ! Suy đoán theo lối của Lê Mạnh Thát th́ có khác ǵ bảo rằng tên nhân vật thống lư Pá Tra trong Vợ chồng A Phủ chính là do Tô Hoài đă vay mượn từ tên gọi của thành phố Pápa tận bên Hungari; hay Nguyễn Trăi, Nguyễn Huệ, Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Nguyễn Tuân đến… Nguyễn Ḥa - kẻ viết bài này, là có cùng một trực hệ! Từ giả thuyết đến chứng minh, cuối cùng rút ra kết luận có giá trị về lư luận và thực tiễn, đó là tiến tŕnh mang tính nguyên tắc đ̣i hỏi mọi người nghiên cứu phải luôn luôn tuân thủ. Lê Mạnh Thát cũng đi theo tiến tŕnh này, song đó là một tiến tŕnh hư vô v́ ông đă đi từ giả thuyết hời hợt đến khảo chứng theo lối tư biện, chủ quan và kết luận một cách cực đoan. Tuy nhiên, việc Lê Mạnh Thát huy động một lượng tri thức phong phú từ nhiều nguồn khác nhau vào công tŕnh đi kèm với những lời xác quyết như phát ngôn của một học giả có thẩm quyền đă che lấp điểm yếu cốt tử trong “nghiên cứu” của ông, và làm cho một số người như bị choáng ngợp khi tiếp xúc với một lượng tri thức rối rắm nhưng đem lại cảm giác về sự thông tuệ, uyên bác, công phu! 6. Với sự phát triển của tŕnh độ nhận thức khoa học, của khả năng khám phá, của các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu… con người đă có được, cho đến nay, nhiều bí ẩn lịch sử đă được “giải mă”, giúp chúng ta có thêm cái nh́n mới về lịch sử. Song điều đó lại đặt công việc nghiên cứu trước những đ̣i hỏi khắt khe hơn, làm cho việc phát hiện ra cái mới trở thành một thách thức không dễ vượt qua nếu người nghiên cứu thiếu vắng năng lực khoa học, không có khả năng nắm bắt và sử dụng các phương pháp nghiên cứu, không có nhăn quan khoa học sáng suốt, không xuất phát từ các tiền đề khoa học đúng đắn… Có thể trong Lê Mạnh Thát luôn thường trực một t́nh yêu dân tộc, nhưng dù t́nh yêu ấy tràn đầy đến thế nào th́ ông mới chỉ có động cơ nghiên cứu, v́ t́nh yêu dân tộc không thể thay thế các yêu cầu, các nguyên tắc của hoạt động nghiên cứu. Đừng v́ Lê Mạnh Thát có t́nh yêu dân tộc mà gán cho kết quả “nghiên cứu” của ông nhăn hiệu “cái mới”. Trong sinh hoạt văn hóa - xă hội nói chung, trong nghiên cứu khoa học nói riêng, để được thừa nhận và khẳng định, cái mới bao giờ cũng phải là kết quả của sự t́m ṭi, sáng tạo phù hợp với quy luật phát triển, mang tính tích cực xă hội,-góp phần làm sáng tỏ, nâng cao nhận thức của con người… Trong nghiên cứu khoa học, cái mới bao giờ cũng phải là phát hiện ra một (hoặc nhiều) điều khác với những ǵ cùng lĩnh vực đă có từ trước, nhưng hiển nhiên, không phải bất kỳ cái ǵ khác trước cũng đều được coi là “mới”. Mặt khác, cái mới ít nhiều c̣n mang tính lịch sử, cái mới của ngày hôm qua có thể là b́nh thường (thậm chí là cái “cũ”) của ngày hôm nay. Như khi PGS Phan Ngọc đưa ra quan niệm về sự “khúc xạ” của nhiều giá trị văn hóa nước ngoài sau khi du nhập vào Việt Nam chẳng hạn. Phát hiện của Phan Ngọc là cái mới ở thời điểm tác giả đưa ra, c̣n lâu nay, nó đă trở thành điều b́nh thường trong quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu khi bàn về tiếp biến văn hóa ở Việt nam. Từ lịch sử vấn đề, tôi không coi “phát hiện” của Lê Mạnh Thát có ǵ mới mẻ, tôi coi đó chỉ là vệt kéo dài của xu hướng nghiên cứu lấy “Việt Nam làm trung tâm”, cố gắng quy nạp nhiều thành tựu văn hóa - văn minh châu Á cổ đại về với Việt Nam, đưa tới cảm giác dường như Việt Nam đă từng là “cái nôi” khai sinh của nhiều giá trị văn hóa - văn minh phương Đông! Thêm nữa, từ góc nh́n thức nhận và có tính biện chứng, đối với một công tŕnh nghiên cứu, không thể chỉ đánh giá từ kết quả mà công tŕnh có được, hay xem xét trong đó tác giả sử dụng tư liệu ǵ, quan niệm của tác giả khi xử lư tư liệu ra sao,… bản chất hơn là phải xem xét điểm xuất phát, xem xét điều ǵ đă tạo nên tiền đề để tác giả tiến hành công tŕnh. Từ góc nh́n ấy, tôi xin khẳng định: Nghiên cứu của ông Lê Mạnh Thát chỉ là một phán đoán chủ quan, ông đi từ giả định đến khẳng định mà bỏ qua một vấn đề then chốt trong nghiên cứu là chỉ có giả định đúng mới có thể (xin nhấn mạnh - NH) đi tới kết luận đúng. Nói cách khác, ông Lê Mạnh Thát mới đưa ra một giả thuyết, mà giả thuyết ấy như tôi đă chứng minh, vừa sai lầm về phương pháp vừa hư vô về tiếp cận và xử lư tư liệu, chúng chưa hội đủ các điều kiện cần thiết để ông phăm phăm đi tới kết luận cuối cùng. V́ thế theo tôi, “phát hiện” của Lê Mạnh Thát hoàn toàn không mang ư nghĩa là “cái mới” như một số tác giả đă lớn tiếng ca ngợi. 7. Theo lẽ thông thường, lẽ ra cuốn sách Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta cùng các kết luận Lê Mạnh Thát trong đó cần được khảo chứng cẩn trọng dưới nhăn quan khoa học th́ thật đáng tiếc, vấn đề lại trở nên ầm ĩ qua sự tung hô của một nhà báo mà tôi tin là tác giả này c̣n thiếu năng lực đánh giá một công tŕnh nghiên cứu, cũng như thiếu năng lực thẩm định các luận điểm của một công tŕnh nghiên cứu. Bằng việc gán cho Lê Mạnh Thát và Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta “những phát hiện lịch sử chấn động”, qua các câu chữ đă sử dụng (“phát hiện cực kỳ quan trọng… đưa ra một loạt những kết luận với các chứng cứ không thể phản bác… chứng cứ đanh thép… khám phá một sự thật lịch sử thú vị… Với những khám phá của ông, chúng ta có đủ tài liệu để dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn năm trước…”), Hoàng Hải Vân vừa bỏ qua thái độ khách quan cần có khi đề cập tới một vấn đề học thuật, vừa bộc lộ sự vội vàng trong tiếp nhận và xử lư thông tin, vừa tỏ ra thiếu trách nhiệm trước bạn đọc. Với bài viết từ tâm thế của một xác tín hồn nhiên như thế, lẽ ra nên cẩn trọng thẩm định trước khi công bố, bởi đây là đề tài liên quan tới một số vấn đề hệ trọng, hàng ngh́n năm nay đă in dấu ấn trong trong niềm tin, trong tâm thức dân tộc, đồng thời c̣n là nỗi đau đáu của nhiều học giả đương thời. Song, không rơ do thiếu khả năng thẩm định hay v́ muốn đưa ra thông tin “giật gân” mà người ta đă tỏ ra thiếu thận trọng? Đáng tiếc hơn, trong “dàn đồng ca do Hoàng Hải Vân lĩnh xướng”, lại có một vài tác giả mượn danh “cái mới” để cổ vũ cho một hướng nghiên cứu tùy tiện. Tôi thật sự thất vọng khi đọc các ḍng chữ do một vị tiến sĩ viết: “Dù không thể tránh khỏi sai sót, những ư kiến của thiền sư Lê Mạnh Thát là cực kỳ ấn tượng và nhất là, mang tính dự báo cho bước đột phá quan trọng đối với việc dựng lại những trang sử của dân tộc trong các thời kỳ không có hoặc thiếu sử liệu… tôi nghĩ đóng góp to lớn và nhiều ư nghĩa nhất của thiền sư Lê Mạnh Thát là ở chỗ ông đă bổ nhát cuốc đầu tiên để khai phá rồi ươm trồng những hạt giống nhận thức mới về lịch sử… Cái đáng quư và cần được ghi nhận một cách trân trọng là ở chỗ, thiền sư Lê Mạnh Thát đă buộc tất cả những nhà nghiên cứu lịch sử nước ta và cả những ai quan tâm đến lịch sử phải có một thay đổi thật sự trong cách tiếp cận, cách hiểu và diễn giải lịch sử”. Đọc xong ư kiến này, ấn tượng sâu sắc mà ông tiến sĩ đem tới cho tôi chỉ là sự sững sờ. V́ tôi đồ rằng đến thời điểm đưa ra phát ngôn, ông tiến sĩ vẫn chưa đọc cuốn sách của Lê Mạnh Thát, mà chỉ nói dựa theo bài báo của Hoàng Hải Vân. Vậy tôi có thể nghi ngờ phát ngôn của một vị tiến sĩ khả kính và có thể đặt câu hỏi: phải chăng học vị tiến sĩ ở xứ An Nam ta cũng có năm bảy đường? Tôi c̣n thất vọng hơn khi thấy một nhà thơ nói rằng: “Với cảm nhận của bản thân, tôi cho rằng những giả thiết mà thiền sư đặt ra là rất đáng trân trọng. Trước hết phải ghi nhận là thiền sư đă có một tinh thần dân tộc, luôn mong muốn làm sáng tỏ lịch sử nước nhà. Thiền sư đă cất công t́m ṭi, ḍ sâu vào lịch sử, đọc những tài liệu, những công tŕnh khoa học từ nhiều nguồn, nhiều quốc gia, nhất là trong các tạng kinh Phật. Đây là một cơ duyên mà không phải ai cũng có được. Trong bối cảnh mà nhiều nguồn tài liệu khác đă bị tiêu hủy, th́ việc phát hiện những vấn đề lịch sử tiềm tàng trong kinh Phật là điều rất quư”. Với một vấn đề khoa học, người ta không thể đánh giá bằng sự “cảm nhận” (bởi đó không phải là một bài thơ!), nên tôi nghĩ nhà thơ cũng khó có thể phân biệt được sự khác nhau giữa sử liệu với “vấn đề tiềm tàng trong kinh Phật”, v́ lẽ: sử liệu là sử liệu và luôn luôn cần phải được thực chứng; c̣n kinh Phật là kinh Phật và trong đó c̣n bao chứa các tín điều, các huyền thoại để thần thánh hóa các tín điều. Cho dù sử liệu và kinh Phật có quan hệ mật thiết đến mức nào th́ vẫn không thể nhầm lẫn, do vậy để bảo đảm cho sự nghiêm cẩn của ư kiến, lẽ ra trước khi phát biểu “cảm nhận”, nhà thơ cần tham khảo ư kiến các nhà chuyên môn như GS Phan Huy Lê, TS Nguyễn Việt mà báo chí đă đăng tải. Cũng xin thưa, dù nhà thơ đă đọc Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta th́ cũng không có nghĩa ông có thể lĩnh hội nó trong tư cách một công tŕnh khoa học, ấy là chưa nói có thể ông đă không đọc cuốn sách với tâm thế phản biện, mà bị thuyết phục bởi những điều mà chưa chắc ông có khả năng lư giải. Không bàn tới các cuốn sách khác của Lê Mạnh Thát, không đánh giá ông đă có đóng góp như thế nào, từ các phân tích trên đây tôi thiết nghĩ, ngoài một số tư liệu cho thấy tác giả là người đọc rất nhiều, cuốn Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta của Lê Mạnh Thát rất thiếu vắng giá trị khoa học. Nếu kết luận của Lê Mạnh Thát là “phát hiện chấn động” th́ nó chỉ có ư nghĩa duy nhất là làm nhiễu loạn nhận thức của công chúng về lịch sử, về các vấn đề có liên quan với nguồn gốc dân tộc. Tôi luôn kính trọng những tác giả có chí hướng nghiêm túc khi cố gắng đi t́m nguồn gốc của dân tộc, song tôi không đặt niềm tin vào động cơ khoa học của một tác giả khi chưa biết ư kiến của ḿnh đúng - sai ra sao đă cao ngạo mạt sát tiền nhân “nhắm mắt nói càn… khốn nạn hết chỗ nói!” (Nhận xét này, dù bị nhiều người phê phán nhưng vẫn ưu ái cho rằng đó không phải là nhận xét của một người say mê Phật học, đến nay vẫn chưa thấy Lê Mạnh Thát đính chính? Tương tự như vậy, việc Lê Mạnh Thát có phải là Giáo sư, Thiền sư hay không xem ra vẫn c̣n rất mù mờ, v́ ngày nay, chức danh Giáo sư là do Nhà nước quyết định, danh hiệu Thiền sư cũng phải được Tăng đoàn công nhận, chứ không phải cứ khoái lên là có thể tặng phứa cho nhau). V́ thế đề nghị các vị học giả, các nhà nghiên cứu không nên tổ chức hội thảo về cuốn sách làm ǵ, công việc ấy chỉ làm tốn kém thêm tiền bạc của nhân dân mà thôi./. NH - 3.2008 -------------------------------------- 1. http://www.quangduc.com/lichsu/03lspgvn.html - Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến thời Lư Nam Đế), do Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP Huế thực hiện, NXB Thuận Hóa - Huế năm 1999, bản này cũng đă được post trên các website khác như thuvienhoasen.org, buddhismtoday.com. 2. Dẫn theo Hoàng Hải Vân - báo Thanh Niên, số ra ngày 26.2.2008. 3. Lê Mạnh Thát - Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh năm 2006, tr.195. 4. Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.212. 5. Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.20 6. Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.72 7. Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.94 8. Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.127 9. Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.129. 10. Đặng Nghiêm Vạn - Về chuyện quả bầu mẹ ở Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 3 năm 1972. 11. Dẫn theo Hoàng Hải Vân, báo Thanh Niên, số ra ngày 3.3.2008. 12. http://www.quangduc.com/lichsu/03lspgvn8.html 13. Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.137. 14. Lê Mạnh Thát, Sđd, tr.133. |
| Guest |
Posted: Apr 2 2008, 01:05 AM
|
|
Unregistered |
TIẾNG VIỆT THỜI HÙNG VƯƠNG
- HAY LÂU ĐÀI CẤT TỪ HƠI NƯỚC? Trần Trọng Dương Kỳ 1 Các giả thuyết “chồng trứng” Ts Lê Mạnh Thát là một trong những học giả lớn trong giới nghiên cứu Phật học ở Việt Nam từ mấy chục năm trở lại đây. Việc đọc sách, mua sách của ông nhiều khi đă trở thành lạc thú. Nh́n khối lượng công việc và những kết quả mà ông đă thành tựu th́ không ai là không cảm thấy nể phục và kính trọng. Gần đây, một loạt những phát hiện về lịch sử và văn hoá dân tộc của Tiến sĩ đă trở thành điểm nóng thu hút sự quan tâm của dư luận. Từ những thức nhận sau khi đọc xong chương IV “Vấn đề tiếng Việt thời Hùng Vương” trong cuốn “Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta” của Lê Mạnh Thát (Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. 2005), bài này được viết ra nhằm trao đổi với Ts Lê Mạnh Thát về việc phục nguyên Tiếng Việt thời Hùng Vương từ cách xác lập giả thuyết đến vấn đề văn bản học. 1. Về các giả thuyết Để cho tiện theo dõi, bài viết sẽ trình bày lại các bước giả thuyết của Ts Lê Mạnh Thát trong việc “khôi phục lại diện mạo của tiếng Việt” (chữ của LMT) thời kì Hùng Vương. Cụ thể như sau: Giả thuyết bước 1: Ts Lê Mạnh Thát cho rằng có thể đã có hệ thống văn tự ghi lại tiếng Việt thời Hùng Vương qua sự tồn tại của Việt luật. Sở dĩ ông đưa ra giả thuyết như vậy là vì sách Hậu Hán thư có một đoạn chép rằng sau khi Mă Viện diệt xong Trưng Trắc, Trưng Nhị bèn “điều tấu Việt Luật (so) với Hán luật sai khác hơn 10 việc”[1]. Ông đi đến nhận định rằng: “Việc tồn tại Việt luật vào những năm 40 - 43 sdl như vậy buộc ta phải giả thiết nước ta vào thời điểm đó đã phát triển tới một mức độ chính xác nhất định đáp ứng được yêu cầu diễn đạt đúng đắn những khái niệm và quy định luật pháp và đã có một hệ thống chữ viết tương đối hoàn chỉnh (TTD nhấn mạnh) để ghi chép các quy định ấy thành một văn bản pháp quy.” [tr.187] Giả thuyết bước 2: (trên cơ sở giả thuyết 1): Ts LMT cho rằng hệ thống chữ viết của người Việt thời Hùng Vương đă có khả năng ghi lại Việt luật th́ cũng có nghĩa là nó đủ sức để thực hiện dịch thuật kinh Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Việt. Tiến sĩ viết: “Một là có khả năng thầy Khương Tăng Hội đã dùng một nguyên bản Phạn văn để dạy cho Hội bằng tiếng Việt. Hội đã ghi chép lại những lời dạy bằng tiếng Việt ấy... để sau này khi có dịp, do nhu cầu truyền giáo ở Trung Quốc, Hội cho dịch ra tiếng Trung Quốc. Hai là thầy Hội đã dùng một bản Cựu tạp thí dụ kinh tiếng Việt dạy cho Hội và đây là một khả năng có tính hiện thực nhất” (TTD nhấn mạnh) [sdd. tr.189]. Và từ “kết luận (TTD nhấn mạnh) về việc tồn tại của một nguyên bản Cựu Tạp thí dụ kinh bằng tiếng Việt” [tr.190]. Giả thuyết bước 3: (trên cơ sở 2 giả thuyết trên): ông cho rằng có khả năng người Việt thời Hùng Vương đã dịch kinh Phật từ tiếng Việt sang tiếng Hán. Ông viết: “Nếu Cựu Tạp thí dụ kinh tiếng Trung Quốc hiện nay do Khương Tăng Hội dịch từ một nguyên bản tiếng Việt thì cũng có khả năng Hội đã dịch Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc hiện nay từ một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt như thế. Và khả năng này trở thành một hiện thực khá rõ nét (TTD nhấn mạnh) khi ta đi sâu vào việc nghiên cứu chính Lục độ tập kinh” [tr.191-192]. Luận cứ mà ông đưa ra là “quá trình cải biên đã được tiến hành một cách có hệ thống và triệt để nhằm tạo cho các truyện kể và giáo lý Phật giáo mang bộ mặt Việt Nam” [tr.192]. Ví dụ: cải biến 100 mảnh thịt thành 100 trứng[2]... 2. Thảo luận về các giả thuyết Lý luận rằng thời Hùng Vương đã có Việt luật thì có thể tồn tại hệ thống chữ viết hoàn chỉnh, giả thuyết này có thể chấp nhận được với tư cách là một giả thuyết để từ đó ta có ý thức tìm kiếm văn bản trong quá trình khai quật. Vì đến cả văn bản Việt luật hay Hán luật giờ đều đã mất. Tư liệu là mảng trắng. Giả thuyết thứ hai cho rằng kinh Phật đã được dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Việt, gải thuyết này cũng có thể chấp nhận được. Nhưng nó cũng yếu như giả thuyết trước. Vì tư liệu cũng không còn gì. Giả thuyết thứ ba cho rằng đã có một đợt dịch kinh Phật từ tiếng Việt sang tiếng Hán. Giả thuyết này là yếu nhất, vì nó chỉ đứng được khi chúng ta đáp ứng được 3 yêu cầu: thứ nhất phải có nguyên bản tiếng Việt để chuyển dịch, và văn bản đó hiện còn; thứ 2 phải có văn bản dịch bằng tiếng Hán (điều kiện này thì luôn luôn đáp ứng đủ); thứ 3 Có các văn bản tiếng Việt khác cùng thời (ví dụ văn bản Việt luật hoặc các văn bản Kinh Phật bằng tiếng Việt khác). Chỉ khi đáp ứng được cả ba yêu cầu này thì chúng ta mới có cơ sở để khảo sát và so sánh ngôn ngữ được. Tiếc rằng điều kiện quan trọng nhất chúng ta cũng không có trên tay: văn bản tiếng Việt thời Hùng Vương. Chừng nào chưa t́m thấy, chưa khai quật được những văn bản như vậy (Trung Quốc gọi là “xuất thổ văn hiến”) th́ các giả thuyết trên chỉ có giá trị như là ... giả thuyết. V́ chúng ta không có ǵ để nghiên cứu cả. Tất cả hệ thống tư liệu về ngôn ngữ và chữ viết thời Hùng Vương là một dải băng tần trắng xóa. Dĩ nhiên, việc nghiên cứu văn tự không thể lấy một chút tư liệu gì từ mảng truyền thuyết, thần thoại, hay huyền sử được mà hoàn toàn nương cậy vào những kết quả của giới khảo cổ. Chính vì thế, chúng ta thấy khâm phục và tin tưởng vào những thành quả mà Giáo sư Hà Văn Tấn đã chiu chắt suốt cả cuộc đời để đi tìm những con chữ trên đá trên đồng, trên từng con dấu và cột kinh[3]! Nhân đây, tác giả bài viết cũng muốn nhắc đến một số văn bản văn xuôi tiếng Việt được ghi bằng chữ Nôm cổ nhất còn lại cho đến nay[4] đều chỉ được khắc in vào thế kỷ XVII-XVIII như Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh[5] (1730), hay Tân biên truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú[6] (1714). Ngay đến cả mấy bài phú Nôm đời Trần (sáng tác tk XIII) thì văn bản cũng khắc in lại ở thế kỉ XVIII. Và các nhà ngữ học như Hoàng Xuân Hãn[7]... phải chứng minh niên đại sáng tác của tác phẩm qua hệ thống từ cổ, hệ thống chữ Nôm và ngữ âm của tiếng Việt vào giai đoạn Lí Trần. Mặt khác, chúng tôi tự đặt ra câu hỏi: tại sao lại có sự trùng khít “ḱ lạ” giữa Việt luật và Hán luật? Tại sao hai bộ luật: một là của thời Hùng Vương, một là của nhà Hán lại chỉ khác nhau có hơn 10 điều? Hay là Hán luật bắt chước Việt luật? Các điều luật giống nhau như thế nào, cụ thể là những điều khoản ǵ? Khác nhau ra sao? Chúng tôi đă lần theo Tứ khố toàn thư [8] th́ thấy có gần 20 bộ sử (như Thông chí, Quảng Tây thông chí, Thiểm Tây thông chí, Quảng Đông thông chí, Ngọc Hải, Thái B́nh ngự lăm…) có đề cập đến Việt luật. Các bộ sau này đều là chép/ trích dẫn lại nguyên văn của Hậu Hán thư (dĩ nhiên câu chữ có đôi chỗ xuất nhập). Nội dung chỉ vỏn vẹn có như vậy (xem chú 1)! Như thế, về bộ Việt luật chúng ta chỉ có mỗi cái tên (mà tên là bằng chữ Hán, tiếng Hán), còn nội dung của nó cụ thể ra sao, nó được viết bằng thứ tiếng gì, bằng thứ văn tự gì thì không biết. Dĩ nhiên, việc xây dựng giả thuyết là quyền của mọi nhà khoa học, và tất cả những người có tinh thần dân tộc đều “hi vọng” giả thuyết của Ts Lê Mạnh Thát là sự thực. Vấn đề đáng nói ở đây là các giả thuyết sau chỉ có thể đứng vững được nếu giả thuyết trước đã trở thành sự thực hoặc đã được chứng minh là đúng, tiếc thay tất cả các giả thuyết trước đều chỉ là... giả thuyết! Nếu ông chỉ dừng lại ở việc đưa ra các giả thuyết thì sẽ không có vấn đề gì để nói. Nhưng, từ những giả thuyết theo kiểu “chồng trứng” như trên, Ts LMT đã thực hiện một thao tác trước nay chưa từng biết đến: ĐI TÌM DIỆN MẠO TIẾNG VIỆT THỜI HÙNG VƯƠNG QUA “LỤC ĐỘ TẬP KINH” - MỘT BẢN HÁN VĂN. Còn cụ thể ông đã tìm thấy những gì, và tìm thấy như thế nào, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể ở các bài bài sau. Dù sao chúng tôi vẫn muốn nói: giá như chúng ta khai quật được một mảnh văn bản Việt luật... giá như chúng ta có một văn bản dịch Kinh Phật bằng tiếng Việt thời Hùng Vương trong tay. Giá như... giá như......!!! Và, dù sao đi nữa, chúng tôi cũng vẫn rất trân trọng Ts Lê Mạnh Thát vì ông đã cố gắng xây dựng lại dáng hình của lâu đài tiếng Việt - tiếng mẹ đẻ của chúng ta qua những hơi nước bốc lên từ “bể đời” mênh mông. |
|
|
| Guest |
Posted: Apr 2 2008, 01:06 AM
|
|
Unregistered |
Kỳ 2
Thao tác “Việt hóa” tiếng Hán cổ Tiếp theo những phản biện về những giả thuyết kiểu “chồng trứng” của Ts LMT đă đăng ở ḱ trước, chúng tôi có một số câu hỏi: Tại sao cứ nhất quyết Khương Tăng Hội dịch Lục độ tập kinh từ một bản tiếng Việt thời Hùng Vương mà không dịch thẳng từ tiếng Phạn sang tiếng Hán? Phải chăng Khương Tăng Hội không biết tiếng Phạn? Hay là ông cũng có biết tiếng Phạn, nhưng để “Việt hoá”, Khương Tăng Hội chỉ dùng bản tiếng Việt mà thôi? Nếu quả đúng như thế thật th́ chúng ta có thể khẳng định rằng ý định “Việt hoá ” ngôn từ kinh kệ tiếng Hán đă tồn tại từ gần 2000 năm trước cho đến tận bây giờ! Ts LMT viết: “Ấn tượng “văn từ điển nhă” bắt nguồn từ việc Khương Tăng Hội đă sử dụng bản đáy Lục độ tập kinh tiếng Việt với một hệ thống văn từ Phật giáo đă được Việt hoá (TTD nhấn mạnh) mang sắc thái văn hoá Viễn Đông, để dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc” [2001. Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh. T1, tr.395]. Và bây giờ là những “văn từ điển nhã” mà Ts Lê Mạnh Thát đã phục dựng lại. Chúng tôi muốn nhắc đến trường hợp cấu trúc trung tâm ngữ- định ngữ (trung – định). 1. Sự nghiên cứu của Ts LMT Ts LMT viết: “Chúng ta phát hiện ra một sự kiện hết sức lạ lùng, nhưng rất quan trọng và có nhiều ý nghĩa đối với không những lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn lịch sử văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. Sự kiện đó là trong một số câu của Lục độ tập kinh, Khương Tăng Hội đã không viết đúng theo ngữ pháp Trung Quốc, mà lại theo ngữ pháp Việt Nam” [T1, tr.400]. Đó là các chữ trung cung, trung tâm, trung đình, thần thụ... Ông lập luận: “Theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc thì chữ trung luôn luôn đứng sau danh từ hay đại từ mà nó chỉ nơi chốn. Điều này hoàn toàn ngược với ngữ pháp tiếng Việt. Cho nên, khi viết trung tâm, trung cung, trung đình với nghĩa “trong lòng”, “trong cung”, “trong sân”, Khương Tăng Hội rõ ràng đã sử dụng ngữ pháp tiếng Việt, chứ không phải ngữ pháp tiếng Trung Quốc. Nếu viết theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc, thì trung tâm, trung cung, trung đình phải đổi lại thành cung trung, tâm trung, đình trung.” [T1, tr.401-402] Ông có nhắc đến một đặc điểm của Hán ngữ cổ đại: “Vị trí chữ trung như một giới từ chỉ nơi chốn đến thế kỉ thứ II sdl như vậy được qui định là ở sau danh từ hay đại từ nó chỉ định.” [tr.403] Còn trước đó, kết cấu này của tiếng Hán cổ đại (từ tk I về trước đến đời Thương Chu) cũng giống y hệt như tiếng Việt hiện đại ngày nay: trung – định. Ông thống kê rằng: “từ thế kỷ thứ I sdl về sau cho đến thời Khương Tăng Hội, trong khoảng 300 năm, cụm từ trung tâm chỉ được sử dụng 3 lần; trong khi đó Lục độ thập kinh 8 lần xuất hiện cấu trúc trung tâm [tr.409]. “Vậy, sự có mặt của những cấu trúc trung tâm này xác nhận một cách không chối cãi (TTD nhấn mạnh) ảnh hưởng của ngữ pháp tiếng Việt đối với bản dịch Lục độ tập kinh” [tr.410]. 2. Phản biện Phản biện 1: trung cung, trung tâm, trung đ́nh là những từ song tiết (có nghĩa). Từ pháp của chúng đều là theo cấu trúc phụ-chính. Trung lúc này nghĩa là “ở giữa, ở bên trong” (= inside adj), nghĩa đen là “cung ở chính giữa”, “tim ở trong ngực”, “cái sân giữa.” Các từ này được ghi nhận trong từ điển Từ nguyên [1997. Thương vụ ấn thư quán. Bắc Kinh] như sau: “Trung cung: 1.Nơi ở của hoàng hậu, để phân biệt hai cung Đông và cung Tây, cho nên thường dùng từ này để gọi thay cho hoàng hậu...2.Chỉ vùng trời nơi sao Bắc cực ở.” [tr.0047.2] Nên câu “王及夫人。自然還在本國中宮正殿上坐。如前不異。Vương cập phu nhân, tự nhiên hoàn tại bản quốc trung cung chính điện thượng tọa, như tiền bất dị” trong truyện 13 tờ 7c13 nên dịch là “vua và phu nhân tự nhiên ngồi ở trung cung (cung chính giữa) nước mình, ngồi trên chính điện như trước, không hề khác.” chứ không dịch là “ngồi trên chính điện trong cung”[tr.583]. Câu “爾王 者之子生於榮樂長於中宮Nhĩ vương giả chi tử, sinh ư vinh lạc, trưởng ư trung cung...” nên dịch là “nàng là con vua, sinh ra trong vui sướng, lớn lên ở nơi cung cấm.” Chỉ có chữ “ư” là giới từ, chữ cung trung là từ song tiết như chữ “vinh lạc” ở câu trên. “Trung tâm: 1.Nội tâm/ cõi lòng. Tim ở trong ngực, cho nên gọi trung tâm. Bài Hữu phu chi đỗ phần Đường phong trong Kinh thi có câu: ‘trung tâm hiếu chi’; 2. Chính giữa của sự vật...’” [Từ Nguyên: tr.0045.4]. Cho nên, từ “trung tâm” trong các câu “trung tâm sảng nhiên”, “trung tâm hoan hỉ”, “trung tâm đát cụ”...đều dịch lần lượt theo nghĩa là “cõi lòng nhẹ nhõm/ hoan hỉ/ sợ hãi...” cả. Vậy, Ts Lê Mạnh Thát sơ suất đến mức không biết rằng đây là những từ Hán song tiết? Câu trả lời rằng: ông biết! Nhưng ông có “mục đích luận” của ông: “dù biết trung cung và trung đình trong tiếng Trung Quốc là những danh từ ghép chỉ những sự vật cụ thể, chúng tôi vẫn tách riêng chúng ra, coi chúng có cấu trúc tiếng Việt kiểu cụm từ trung tâm và hiểu theo nghĩa tiếng Việt.” Phải chăng, đây chính là “thao tác Việt hóa” của ông!? Đọc dăm ba từ theo “kiểu Việt” trong một văn bản tiếng Hán cổ có độ dài lên đến 79.607 lượt chữ như thế liệu có thuyết phục được không? Thêm nữa, với sự ghi nhận của từ điển, các từ trung cung, trung tâm, trung đ́nh thuộc về vốn từ vựng cơ bản của tiếng Hán suốt từ thời cổ đại cho đến ngày nay. Theo thống kê của Ts Lê Mạnh Thát, từ trung cung xuất hiện 2 lần, trung tâm xuất hiện 8 lần, trung đ́nh xuất hiện 1 lần trong Lục độ tập kinh. C̣n chúng tôi thống kê được rằng, trong Tứ khố toàn thư, chữ trung cung xuất hiện 5000 lần trong 2942 quyển, trung tâm xuất hiện 9441 lần trong 6094 quyển, trung đ́nh xuất hiện 4093 lần trong 2853 quyển. Đến đây, chúng tôi không dám b́nh luận ǵ thêm cả, hăy để các con số tṛ chuyện với nhau vậy! Phản biện 2: Về từ Thần thụ (thọ) Chúng tôi tạm chấp nhận với Ts LMT rằng từ “Thần thụ” có lẽ mới là từ được đặt theo kết cấu trung - định. Thần thụ nghĩa là “thần cây” chứ không phải cây thần. Ông dẫn chứng rằng chữ này c̣n xuất hiện trong cả Cựu tạp thí dụ kinh [tr.414]. Ngoài ra, ông c̣n dẫn thêm một số trường hợp khác như thuỷ vũ là “nước mưa”, tượng Phật, bệ thăng thiên là “bệ lên trời”, ngoại dă là “ngoài cánh đồng.” Ông coi đây như là chứng tích của sự “Việt hoá” ngữ pháp trong văn bản này. Trước hết, về chữ thần thụ theo cấu trúc trung-định, chúng tôi thống kê được rằng chữ này xuất hiện 243 lần trong 185 quyển ở Tứ khố toàn thư. Tạm có thể nhận định rằng: kết cấu Thần thụ là một hiện tượng ngữ pháp không phải chỉ xuất hiện trong hai văn bản mà Ts LMT đang nghiên cứu (2 so với 243). Thực ra, vấn đề kết cấu trung - định không lạ lẫm ǵ đối với giới nghiên cứu Hán ngữ cổ đại. Năm 1956, Dương Bá Tuấn trong Văn pháp văn ngôn đă đề xuất khái niệm “định ngữ hậu trí” (định ngữ đặt sau trung tâm ngữ) trong tiếng Hán cổ. Vấn đề này quan trọng đến nỗi, năm 1979, Trung Quốc đă đưa vào chương tŕnh học tập cho học sinh trung học (TTD nhấn mạnh) [theo Mai Quang Trạch. 2004. Thiển đàm AB giả kết cấu định ngữ hậu trí. trong “Nhạc Sơn Sư phạm Học viện Học báo”, số 8, tr.18-20]. Mai Quang Trạch cho rằng: trong lịch sử c̣n có một giai đoạn mà cả hai h́nh thái trung- định, định – trung cùng song song tồn tại. Bài viết, sách vở nghiên cứu về vấn đề này th́ nhiều không kể xiết, các tác giả như Mantaro Hashimoto (1980), Trần Địch Minh (1981), Tào Văn An (1982), Kinh Quư Sinh (2001), C.Goddard (2005)... đã nghiên cứu cho thấy: kết cấu trung định trong Hán cổ là sản phẩm của quá tŕnh tiếp xúc với các ngôn ngữ có họ hàng với nó, như các ngôn ngữ thuộc các ngữ tộc Tạng - Miến, Miêu - Dao, Đồng - Thái (chuyển dẫn theo NTC). V́ thế có thế nói, cái “ sự kiện lạ lùng” mà Ts LMT phát hiện ra kia thực ra cũng chỉ là “lạ với ḿnh mà quen với người” mà thôi. Việc ông phát hiện ra một hiện tượng ngữ pháp của tiếng Việt hiện đại (TTD nhấn mạnh) trong bản Hán văn Lục độ tập kinh (vào Tk II sdl) là sai lầm không những về văn bản học, mà c̣n về phương pháp khoa học. Ông đă đem những cái “phi đồng đại” ở những không gian địa lư khác nhau so sánh và đồng quy. Nói đơn giản hơn: ông dùng cái tư duy tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt hiện đại) để t́m kiếm một số ít hiện tương tương đồng trong một văn bản Hán văn cổ, sau đó đưa ra 2 chủ ư: 1.Bản Hán văn bị ảnh hưởng của tiếng Việt; 2. Tiếng Việt thời Hùng Vương không có thay đổi ǵ so với tiếng Việt hiện nay ở kết cấu trung - định. Đến đây, chúng tôi mới hiểu vì sao những phát hiện “chấn động” của Ts Lê Mạnh Thát đến giờ mới được dư luận chú ý; còn các nhà chuyên môn (ngữ học) thì vẫn cứ tiếp tục công việc của mình một cách thầm lặng và ưu tư. |
|
|
| Guest |
Posted: Apr 2 2008, 01:06 AM
|
|
Unregistered |
Kỳ 3
Biến “văn Hán” thành “thơ thời Hùng Vương” Ở kì 2, chúng tôi đã đề cập đến thao tác của Ts Lê Mạnh Thát, đó là việc ông “Việt hóa” tiếng Hán cổ theo tinh thần “mục đích luận”; đó là tinh thần “vị chủng”, “Việt nguyên”. Chúng tôi đã chứng minh rằng từ cung trung, trung tâm,...là từ vựng cơ bản của tiếng Hán cổ, và chúng xuất hiện với tần số cực cao (5000 và 9441 lần) trong Tứ khố toàn thư. Chúng tôi cũng đã cung cấp thông tin việc cấu trúc trung – định trong tiếng Hán cổ như kiểu thần thụ đã được đưa vào dạy cho học sinh trung học ở Trung Quốc từ năm 1979. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đi tiếp vào phát hiện “chấn động” của Ts LMT. Đó là việc ông phục dựng lại một bài “thơ thời Hùng Vương” qua văn bản Hán văn Lục độ tập kinh. Liệu có hay không sự tồn tại của một bài thơ Việt thời Hùng Vương trong văn bản được viết bằng chữ Hán cách đây gần 2000 năm? 1. Sự nghiên cứu của Ts LMT Ông viết: “Ngoài ra, truyện 14, mà chúng tôi sẽ bàn kỹ ở dưới đây, khi tả diện mạo lăo phạm chí, đă viết: “Tỉ chính biển hổ, thân thể liêu lệ, diện sô thần đả, ngôn ngữ khiểng ngật”. Trong đó nếu ta coi những chữ “tỉ”, “diện”, “thần” như những tá âm tiếng Việt của chữ Trung Quốc tức đọc "mũi", "mặt", "môi", th́ bốn câu vừa phiên âm có thể là một bài thơ tiếng Việt cổ: Mũi chính vểnh vẹo, Thân thể rệu rạo (rẹo), Mặt xô môi dày, Ngôn ngữ ngọng nghịu Tất cả những chữ “vểnh vẹo”, “xô”, “dầy”, “ngọng nghịu”, chúng tôi hầu như phiên âm lại những chữ viết của Khương Tăng Hội. Và chúng có thể là những chữ quốc âm (TTD nhấn mạnh) đầu tiên hiện còn ghi lại. Chữ “xô” đây là xô xảm. Chữ “dày” đúng ra là phải phiên “đày”... .[Lê Mạnh Thát. 2001. Tổng tập văn học phật giáo Việt Nam. nxb Thành phố Hồ Chí Minh. tr.435] Ông kết luận: “Qua những phân tích trên, ta thấy Lục độ tập kinh chứa đựng một số tàn dư (TTD nhấn mạnh) của ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp tiếng Việt. Sự tồn tại của những tàn dư nầy đưa ta đến những kết luận nào? Thứ nhất, như trên đă nói, Khương Tăng Hội sinh ra, lớn lên và được đào tạo thành tài tại đất nước ta, cho nên khi tiến hành phiên dịch và trước tác, dứt khoát không thể nào không chịu ảnh hưởng của tiếng Việt về cả ba mặt ngữ vựng, cú pháp và ngữ pháp...Thứ hai: đó là có khả năng Khương Tăng Hội đã sử dụng một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt để dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc” [tr. 421-422] 2. Phản biện về phiên âm Nguyên văn đoạn tiếng Hán như sau: “鼻正匾虒。身體繚戾。面皺脣[多頁][9]。言語蹇吃。” Điều mà tôi lấy làm lạ nhất là trong một đoạn có 16 chữ, lại có 4 chỗ sai phiên âm. Cụ thể đó là các chữ sau: 2.1. Chữ 鼻tị (nghĩa là mũi) bị đọc thành tỉ. Chữ này không thể đổ lỗi cho chế bản được, vì đây là chữ quá ư thông dụng, cũng không thể đổ lỗi là tác giả kém chữ nghĩa được, vì chúng ta đều biết ông là người rất uyên thâm về ngôn ngữ, nhất là tiếng Hán . Lỗi không thuộc về ai cả. Chỉ có việc phiên sai là tồn tại một cách có hệ thống và khá nhất quán[10]. 2.2. Chữ 虒 bị đọc nhầm thành hổ. Vì đúng là có chữ “hổ 虎” nằm ở trong. Từ điển Từ nguyên chú âm là“虒:息移切 tức di thiết, bình thanh” [tr.1494.1], Trùng tu ngọc thiên chú: “思移切tư di thiết”. Sách Ngự định Khang Hi tự điển (Q.26) ghi: “虒Đường vận: 息移切tức di thiết. Tập vận: 相枝切tương chi thiết.” Như thế, chữ này phải đọc là “tì”. 2.3. Chữ 皺 bị đọc là sô. Sách Trùng tu ngọc thiên, Trùng tu quảng vận đều ghi: “側救切trắc cứu thiết”. Cổ văn tứ thanh vận ghi: “籀韻trứu vận”. Như vậy chữ này có âm Hán Việt là “trứu”. 2.4. Chữ 蹇bị đọc nhầm thành “khiểng”. Từ nguyên chú âm: “九輦切cửu liễn thiết, thượng” [tr.1633.2]. Ngự định Khang Hi tự điển ghi: “Đường vận: 居偃切cư yển thiết. Tập Vận vận hội: 紀偃切kỉ yển thiết.” Tự điển Hán Việt của Trần Văn Chánh ghi âm “kiển” [tr.919]. Như vậy, chữ này đọc là “kiển”. 3. Phản biện về khái niệm tá âm Ts LMT cho rằng các chữ ““tị”, “diện”, “thần” là những tá âm tiếng Việt của chữ trung Quốc”. Ý ông là chữ “tị” mượn âm từ chữ “mũi”, chữ “diện” mượn âm từ “mặt”, chữ “thần” mượn âm từ “môi.” Như thế, ông hình dung những từ trong văn bản Hán văn Lục độ tập kinh là vay mượn (tá) âm đọc từ tiếng Việt (mà khái niệm “tiếng Việt” lại đánh đồng về lịch đại. Tiếng Việt nào?). Quả đúng là Ts LMT tỏ ra không chuyên về vấn đề khái niệm. Ai cũng biết “tá âm[11]” là “vay mượn âm” (như chữ tá điền). Và sự vay mượn bao giờ cũng để lại những “chứng tích” về âm giữa các yếu tố từ vựng của hai ngôn ngữ. Và ở đây, chúng ta hãy đi tìm sự tương ứng hay gần gũi giữa các cặp âm tị – mũi, diện – mặt , thần – môi như ông Rokuro Kono đã làm với tiếng Nhật[12]! Nếu kết quả này của Ts LMT được các học giả thế giới công nhận thì tiếng Hán trong Lục độ tập kinh là phương ngôn của tiếng Việt thời Hùng Vương. Ts LMT cũng lấy được đôi ba trường hợp có cùng vị trí cấu âm. Ví dụ: âm môi: biển – vểnh; âm đầu lưỡi: liêu lệ – rệu rạo. Nhưng những liên hệ âm đọc này chỉ là bề mặt. Muốn đọc được âm của thời Hùng Vương chúng ta phải thực hiện những quy trình tái lập ngữ âm (TTD nhấn mạnh) rất phức tạp, chứ không nên đơn giản hóa và bắc cầu giữa các hiện tượng tồn tại cách nhau 2000 năm. Nói cụ thể hơn là chữ “rệu rạo”, “ngọng nghịu” đều là từ vựng được đọc theo âm tiếng Việt hiện đại. Còn nếu tái lập âm đọc chữ “rệu rạo/ rẹo” cho tiếng Việt quãng thế kỉ XV thì phải là “kleo klao” (tạm ví dụ một cách cụ thể và thô phác như thế). Giống như cái việc mà ông Nguyễn Bạt Tụy ngày xưa tái lập câu “tìm mai theo đạp bóng trăng” của Nguyễn Trãi thành “xìm môi seo tạp boóng blăng” vậy (còn tái lập lên đến tận thời Hùng Vương thì ...). Mặt khác, chữ “rệu rạo” đến tận cuối thế kỳ XIX vẫn chưa thấy được ghi nhận trong từ điển [ví dụ Huình Tịnh Của, Génibrel]. Ấy là chưa kể đến mấy chữ không đọc đúng theo âm Hán Việt như đã nêu trên. Liệu chữ “vẹo” có liên quan gì đến âm “tì” (kể cả âm “hổ”)? Hay “xô” với “trứu”? Hay “ngọng” với “kiển” (/kiểng)? Hay “nghịu” với âm “ngật”? Thế mà, Ts Lê Mạnh Thát đã khẳng định “Chữ ngọng nghịu, rệu rạo và vặn vẹo thì quá rõ ràng, khỏi phải bàn cãi” [tr.435] Chúng tôi cũng không thấy ông đề cập đến hai trường hợp từ Hán Việt là “thân thể” và “ngôn ngữ.” Có lẽ, cứ theo tinh thần lập luận của ông thì hai từ này cũng mượn từ tiếng Việt thời Hùng vương, rồi được kí âm bằng các chữ “身體”, “言語”. Tiếc là chữ viết thời Hùng Vương đến nay không còn dấu vết gì, chỉ có người Hán là may mắn giữ lại được. Đến đây, chúng tôi tạm đưa ra vài câu hỏi để tự mình tìm hiểu: Nếu cứ coi đây là một bài thơ Việt, thì tại sao người Việt thời Hùng Vương lại không dùng văn tự của chính mình để ghi lại chuỗi ngôn từ của tiếng Việt? Mà lại dùng chữ Hán để ghi? Bốn câu thơ mà Ts LMT phục dựng trên đây liệu có thể đọc theo “cách Việt” trong một văn bản văn xuôi tiếng Hán “điển nhã” dài đến 79.607 lượt chữ? Chúng ta đã bao giờ thấy việc sử dụng những chữ cực khó (như匾, 虒,皺, [多頁],, 蹇) của tiếng Hán cổ để ghi âm lại tiếng Việt bao giờ chưa? Bởi đã dùng chữ Hán để ghi âm tiếng Việt thì ắt phải dùng những chữ thông dụng để mọi người cùng đọc được. Chúng tôi cho rằng đoạn trên vẫn là những “ngôn từ điển nhã” của văn ngôn tiếng Hán cổ. Chúng tôi xin dịch lại như sau: 3. Phiên dịch lại đoạn văn Nguyên văn “鼻正匾虒。身體繚戾。面皺脣[多頁][13]。言語蹇吃。” Chú thích chữ nghĩa (loại trừ những chữ dễ): Về chữ 匾 biển:“薄也。《方言》:物 之薄 者曰匾[匸+虒]。《玉篇》:匾. 匾[匸+虒]. 《廣韻》,匾。匾[匸+虒],薄也.”[Lâm Doãn & Cao Minh (chủ biên). Trung văn đại từ điển. (Q.37). Trung Quốc văn hóa nghiên cứu sở ấn hành & Hoa Cương văn hóa thư cục. tr 1956][14]. Chữ [ 匸+虒] được ghi nhận trong từ điển này bao gồm bộ hạp (匸) bao ở ngoài và chữ tì (虒) nằm ở trong bộ hạp. Do ít gặp, nên chữ này chưa được đưa vào trong bất cứ bộ gõ chữ nào. Chúng tôi đành phải mô tả cấu trúc hình thể lại như vậy. Theo Chính tự thông[15] chữ [ 匸+虒] (hạp + tì) còn có một tục tự nữa là [匸+ 虎] (hạp + hổ). Nhưng vị trí này trong văn bản được viết bởi chữ tì虒, như chúng tôi đã đề cập đến ở phần “2.Phản biện âm đọc”. Chúng tôi tạm đưa ra giả thuyết như sau: trong văn bản này, chữ tì[16] 虒là chữ giả tá của chữ [ 匸+虒], chúng có giá trị ngữ âm như nhau, có ngữ nghĩa như nhau khi đi với từ biển; vì hai chữ này hợp lại thành một từ song tiết. Vậy chữ [ 匸+虒] có âm đọc là gì? Trung văn đại từ điển cũng ghi: “廣韻》:土奚切。《集韻》:天黎切,音梯。” (Quảng vận: thổ hề thiết. Tập vận: thiên lê thiết, âm thê). Như vậy, chữ [ 匸+虒] đọc là THÊ. Đến đây chúng tôi phiên âm, dịch nghĩa lại đoạn trên trong Trung văn đại từ điển: Biển: “bạc dã. Phương ngôn: vật chi bạc giả viết BIỂN THÊ. Ngọc thiên: biển, biển thê. Quảng vận: biển, biển thê, bạc dã.” Dịch nghĩa: “Biển: nghĩa là mỏng. Sách Phương ngôn viết: vật gì mà mỏng dẹt thì nói là BIỂN THÊ. Sách Ngọc thiên viết: biển, tức BIỂN THÊ, nghĩa là mỏng). Tiểu kết: hai chữ 匾 [匸+虒] đọc là BIỂN THÊ nghĩa là “mỏng dẹt”. Câu “tị chính biển thê” nên dịch là “mũi thẳng và dẹt”. Rõ ràng là đặc điểm nhân chủng của vị phạm chí này không phải là người Việt. Như thế, Khương Tăng Hội dịch khá sát về ngữ nghĩa. Tiếc rằng, chúng tôi không biết tiếng Phạn để đối chiếu và kiểm chứng. Về chữ “Liêu lệ”. Trung văn đại từ điển ghi: “Liêu lệ 繚戾: chỉ cái dáng nước chảy uốn éo (khuất khúc 屈曲)” [sđd, Q 26, tr.11308]. Đặt trong cả câu thì chữ này nên dịch như thế nào? “Thân thể liêu lệ” là lời của một chàng trai khi chê bai hình dáng của phạm chí ở huyện Cưu Lưu. Dĩ nhiên, không thể dịch một cách thô thiển là: thân thể uốn éo được. Chúng tôi tạm đưa ra hai giả thuyết để xử lý: nhứ nhất, chữ liêu lệ không chỉ dùng để chỉ dáng quanh co, uốn lượn của dòng nước chảy qua khe mà còn còn được dùng để chỉ dáng người. Thứ 2, từ liêu lệ chỉ có nghĩa “uốn éo” như trên, nhưng trong văn cảnh này, tác giả/ người dịch (người chuyển ngữ) đã dùng ngôn từ theo hướng văn học. Nếu dịch câu này theo đúng nghĩa từ điển và cho dễ hiểu hơn thì nên “tân dịch” (dịch từ Hán cổ sang tiếng Hán trung đại) là “thân thể khuất khúc”. Khuất khúc nghĩa là “bất trực” (không thẳng). Chúng tôi tạm đưa ra 2 cách dịch sau: 1. Thân hình khúc khuỷu (Ý tả hình dáng gầy gò, chân tay cong và teo tóp); 2. Thân thể còng queo. Với cả hai cách dịch trên, câu văn trở nên hợp nghĩa hơn với cả đoạn văn miêu tả một vị phạm chí tóc bạc, da mồi. Về chữ trứu 皺 (Ts LMT đọc nhầm là sô 芻). Chữ trứu gồm bộ bì 皮để trỏ trường nghĩa (liên quan đến da) và âm sô 芻(Sô芻được dùng làm thanh phù để tạo nên các chữ khác, một số chữ có âm đọc là sô như雛鶵犓蒭, và một đôi chữ có âm đọc là trứu 皺縐謅). Từ nguyên ghi: “Trứu: chỉ mặt có nếp nhăn, vật gì mà có nếp vết cũng đều dùng chữ trứu cả.”[tr.1184.4]。Đỗ Phủ 杜甫trong bài《病后过王倚饮赠歌》viết:"肉黄皮皺命如线。" (nhục hoàng bì trứu mệnh như tuyến) nghĩa là: thịt vàng, da nhăn, mệnh đã mỏng như cái sợi. Ts Lê Mạnh Thát không dịch mà phiên âm thành “xô”. Về chữ [多頁] (chữ này không có trong các bộ gõ, nên chúng tôi tam mô tả như sau: chữ đa ở bên trái, bộ hiệt ở bên phải). Trung văn đại từ điển ghi: “[多頁]《廣韻》: 丁可切。《集韻》:典可切,音嚲, 上聲。醜貌” [tr.16076]. (Sách Quảng vận ghi: đinh khả thiết. Sách Tập vận ghi: điển khả thiết, âm ĐẢ, nghĩa là vẻ xấu xí.) Chữ này cũng rất ít xuất hiện đến mức các từ điển thông thường không ghi nhận. Như vậy câu: “diện trứu thần đả” dịch là: mặt nhăn nhúm, môi xấu xí. Về chữ kiển ngật 蹇吃. Sách Trung văn đại từ điển ghi: “《一切經音義, 引通俗文》: 言不通利,謂之蹇吃” nghĩa là “ Sách Nhất thiết kinh âm nghĩa có dẫn sách Thông tục văn rằng: lời nói không lưu loát, thì gọi là Kiển ngật”. Như vậy, Kiển ngật nghĩa là: lắp bắp, lúng búng (hoặc cũng có thể dịch là ngọng nghịu như Ts LMT, nhưng chữ này chỉ dùng cho trẻ em đang ở độ tuổi nói chưa sõi). Như vậy câu: “ngôn ngữ kiển ngật” nên dịch là “ăn nói lắp bắp”. Bây giờ, chúng ta thử đặt các câu dịch trên trong toàn bộ đoạn văn xem như thế nào: “Mặt mày đen đúa, mũi cao và dẹt, thân hình còng queo, mặt nhăn môi xấu, ăn nói lắp bắp, hai mắt thì xanh, dạng hình như quỷ... ”. Đây là đoạn văn chữ Hán hoàn toàn. Tuy nhiên, hình thức bốn chữ của cổ văn khiến cho Ts LMT giải quyết theo hướng “thơ hóa”. Như thế, Ts Lê Mạnh Thát đã biến một đoạn “văn Hán” trong một văn bản Hán văn cổ kính và “điển nhã” thành “thơ tiếng Việt thời Hùng Vương”. Để kết thúc bài viết, chúng tôi xin trích lại một đoạn lập luận của Ts LMT: “Ấn tượng “văn từ điển nhã” ấy có được là do khi dịch Lục độ tập kinh , Khương tăng Hội đã sử dụng một bản đáy tiếng Việt, thay vì tiếng Phạn. Chính nhờ căn cứ vào bản đáy Lục độ tập kinh tiếng Việt này, Khương Tăng Hội mới có được một bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc mang tính “văn từ điển nhã” vừa thấy” [tr.394]. -------------------------------------------------------------------------------- Chú thích [1] Nguyên văn: 條奏越律與漢律駮者十餘事. [Hậu Hán Thư. Quyển 54]. Chữ “條奏điều tấu” nên dịch sang tiếng Việt là “theo từng điều một mà tâu lên trên 逐条上奏” [罗竹风 主编. 《汉语大词典(全13卷)》。汉语大词典出版社1994。第01卷, tr. 1482]. Chúng tôi xin trích dịch cả đoạn để làm tư liệu: ..." 援所过辄为郡县治城郭,穿渠灌溉,以利其民。條奏越律与汉律驳者十余事,与越人申明旧制以约束之,自后骆越奉行马将军故事。Cả câu dịch là: "Mă Viện đi đến đâu cũng tu sửa thành quách, đào mương máng tưới tiêu, để làm lợi cho dân. Theo từng điều mà tấu tŕnh về hơn chục chỗ trái nhau giữa Việt luật với Hán luật, giảng giải cho người Việt rơ về phép tắc cũ để ước thúc họ, từ đó người Lạc Việt phụng theo phép tắc cũ của Mă Tướng quân" [许嘉璐主编.《二十四史全译-后汉书-第2册 . 世纪出版集团-汉语大词典出版社2004,tr.657.] [2] Tuy nhiên, biểu tượng trứng là một mẫu số phổ quát ở mọi nền văn hóa từ Celtes, Hy Lạp, Ai Cập, Phénicien cho đến Tây Tạng, Ấn Độ, Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản. [Jean Chevalier & Alain Gheerbrant.1997. Từ điển biểu tượng văn hóa Thế giới. (bản dịch do Phạm Vĩnh Cư chủ biên). Nxb Đà Nẵng & Trường Viết Văn Nguyễn Du. H. tr.961-965.] Ông c̣n khẳng định: “những đối tượng này chắc chắn không phải là người Trung Quốc mà là người Việt Nam, người thuộc một dân tộc tự nhận tổ tiên mình sinh ra từ một trăm cái trứng, như Lĩnh Nam chích quái và Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi”[tr.194] Khốn nỗi, cả hai văn bản này đều ra đời sau Lục độ tập kinh đến cả hơn ngàn năm. [3] Hà Văn Tấn. 2002. Chữ trên đá, chữ trên đồng- Minh văn và lịch sử. Nxb. KHXH.212tr. [4] Theo những nghiên cứu về chữ Nôm tính đến thời điểm viết bài. [5] Theo chứng minh của Hoàng Thị Ngọ thì văn bản Phật thuyết... do Trịnh Quán đem khắc lại vào trước năm 1730. Còn theo chứng minh của Nguyễn Quang Hồng qua việc tái lập ngữ âm từ chứng tích về chữ Nôm cổ thì tiếng Việt trong bản này thuộc về thời Lý-Trần. “Cũng cần lưu ư đến những văn bản chữ Nôm mặc dầu chưa xác minh được niên đại, song xét về mặt ngôn ngữ được ghi chép bằng chữ Nôm trong đó, ta thấy những dấu hiệu của một tiếng Việt cổ xưa, có thể là xưa hơn cả các văn bản thời nhà Trần. Đó phải chăng là trường hợp của văn bản giải âm (trực dịch từ Hán sang Nôm) trong sách Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, trong đó ngoài những chữ Nôm tự tạo, có hàng loạt từ ngữ tiếng Việt được viết bằng hai chữ vuông Hán, phản ánh t́nh trạng cấu trúc ngữ âm từ theo kiểu MiS+MaS (âm tiết phụ + âm tiết chính) hoặc CCVC với tổ hợp phụ âm đầu khá đa dạng, như 破 散 "phá tán" *păsanh / psănh > rắn) 破 了 "phá liễu" *pălau / plău > sáu, "cư măng" 車 莽 * kămang / kmăng > mắng , "cá nô" 个 奴 *kăno / kno > no, v.v., là những ǵ đặc trưng cho tiếng Việt sơ kỳ, có thể là vào thời nhà Lư, là thời kỳ đạo Phật rất thịnh hành ở nước ta”. [Nguyễn Quang Hồng. 2004. Một số vấn đề và khía cạnh nghiên cứu chữ Nôm. Trong Nghiên cứu chữ Nôm. Viện NCHN & The Vietnamese Preservation Nom Foundation (USA). Nxb KHXH.H.tr.32-33] . [6] Xin xem Nguyễn Quang Hồng phiên khảo, 2001. Tân biên truyền Kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, Nxb.Khoa học Xă hội, Hà Nội. [7] Hoàng Xuân Hăn. 1998. Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần- Lê, trong “La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hăn”. Nxb. Giáo dục. Hà Nội. [8] Văn Uyên Các. Tứ Khố toàn thư. Thượng Hải nhân dân xuất bản xă. [9] Chữ này khó và ít xuất hiện đến mức không thấy trong bất cứ một bộ phông tiếng Hán nào có mã chữ này cả. Các từ điển như Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu, Từ nguyên , hay Khang Hi tự điển đều không có chữ này. Chúng tôi tạm ghép như trên và để trong ngoặc kép. [10] Lê Mạnh Thát. 2001. Tổng tập văn học phật giáo Việt Nam. nxb Thành phố Hồ Chí Minh. tr.423; tr.435; Lê Mạnh Thát. 2005. Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta. Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. tr. 205. http://www.quangduc.com/lichsu/14vanhocpgvn07.html [11] Còn theo Ngô Chấn Phương trong sách Độc thư chính âm thì tá âm được chia nhỏ ra làm nhiều loại như: đồng âm tá nghĩa, tá đồng âm nhưng không tá nghĩa, nhân nghĩa tá âm, ... [12] “sự tương ứng về ngữ âm đă được sử dụng trong một số tên riêng như 須佐 cho “Susa” trong “速須佐之男命” hayasusanowo [Tên một vị nam thần trong Kojiki, em trai của nữ thần mặt trời], hay 須賀 cho /Suga/ trong “須賀宮” (cung Suga). Phương pháp [mượn] âm này đă được tiếp thu một cách hoàn hảo trong một bài hát nổi tiếng bắt đầu bằng “yakumo tatu...”. Sự tương ứng về ngữ âm không phải là một chiều hướng lấn át, trừ trường hợp đối với tên riêng hoặc bài hát. Thậm chí trong tên riêng, phương pháp ngữ âm không phải luôn được chấp nhận.” [theo Nguyễn Khắc Kham. 1974. Chu Nom or the Former Vietnamese Script and its Past Contribution to Vietnamese Culture (NTC dịch), Area and Culture Series (Tokyo, Japan) 24.171-189.] [13] Chữ này khó và ít xuất hiện đến mức không thấy trong bất cứ một bộ phông tiếng Hán nào có mã chữ này cả. Các từ điển như Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu, Từ nguyên , hay Khang Hi tự điển đều không có chữ này. Chúng tôi tạm ghép như trên và để trong ngoặc kép. [14] 林尹 & 高明 (主編)。中文大辭典。(第37 卷)。中國文化研究所印行 & 華岡文化書局。 [15] Chuyển dẫn theo林尹 & 高明 (主編)。中文大辭典。(第37 卷)。中國文化研究所印行 & 華岡文化書局. tr. 1960. [16] Nêu Tì là từ đơn tiết thì có 2 nghĩa: Sách Chu dịch tượng từ (quyển 3) viết: “tì là loại hổ có sừng ở trên đầu, loại thú này không thấy ở trên đời.” Chữ này còn có nghĩa là “thò thụt, so le” như câu "偨池茈虒” trong bài 《Thượng lâm phú上林赋》của Tư Mã Tương Như. |
|
|
| Trần Quấy |
Posted: Apr 2 2008, 06:12 AM
|
|
Unregistered |
Cái này không lien quan đến bác Thát nhưng cũng chấn động không kém
Chuyên Cơ Huy Đức Vào lúc 9 giờ 45 sáng 24-3, trên đường lăn vào nhà ga Nội Bài, chiếc máy bay Airbus của hăng hàng không Thái dừng lại trước cửa nhà khách A cho một đoàn khách VIP bước xuống. Lúc này, nhiều hành khách Việt Nam ngồi ở khoang business class trên chuyến bay mang số hiệu TG 682, mới biết, vị khách ngồi ở ghế 1A chính là Tân Thủ tướng Thái Lan Samak Sundaravej. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên được ông Samak tới thăm kể từ khi ông trở thành Thủ tướng. Ông Samak không phải là vị nguyên thủ đầu tiên đến Việt Nam bằng máy bay khách. Năm ngoái Thủ tướng Singapore đă tới Việt Nam trên một chuyến bay thường của hăng Singapore Airlines và trở về trên một chuyến bay khác của hăng hàng không giá rẻ, Tiger Airways. Thủ tướng Hàn Quốc và phần lớn các vị nguyên thủ khác cũng đă công du Việt Nam bằng các phương tiện phổ thông. Hiện nay, trên Thế giới, chỉ c̣n một số rất ít các quốc gia áp dụng chế độ chuyên cơ cho các nguyên thủ như: Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản… Chính phủ Anh, tuy vẫn chưa “thanh lư” chiếc Boeing 747 “sắm” từ 40 năm trước, nhưng, từ thời ông Tony Blair, các nguyên thủ của quốc gia giàu có vào hàng nhất Thế giới này đă không c̣n mấy khi đi lại bằng chuyên cơ nữa. Ở Pháp, chế độ chuyên cơ được chính thức băi bỏ kể từ khi Tổng thống Jacques Chirac lên nắm quyền. Đương thời, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đă từng mua vé như những hành hành khách b́nh thường, cho ḿnh và đoàn tùy tùng, thay v́ dùng chuyên cơ như thông lệ. Ông nói: “Nước nghèo, dân nghèo, lănh đạo phải tiết kiệm”. Tuy nhiên, ngay chính Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và những người kế nhiệm, đă không đủ can đảm để từ chối những chuyến chuyên cơ oai vệ. Không chỉ nằm trong nhóm rất ít quốc gia c̣n áp dụng chế độ chuyên cơ cho nguyên thủ, Việt Nam c̣n là nước áp dụng chế độ xa xỉ này cho những 4 chức danh: Tổng Bí thư chuyên cơ; Chủ Tịch Nước chuyên cơ; Thủ tướng chuyên cơ và Chủ tịch Quốc hội cũng chuyên cơ luôn! Hầu hết đội tàu bay của hăng hàng không quốc gia Việt Nam hiện nay là máy bay thuê hoặc mua bằng nguồn vốn vay ngân hàng nước ngoài, do Chính phủ bảo lănh. Giá thuê một chiếc Boeing 777, loại vẫn thường sử dụng bay chuyên cơ, không dưới 1 triệu USD/tháng. Không chỉ tốn kém khi bay, cứ mỗi ngày nằm “đợi xếp” ở các sân bay, những chiếc chuyên cơ này vẫn phải trả phí “giờ chết” khoảng 30 ngh́n USD/ngày, chưa kể các chi phí sân đậu, cất, hạ cánh…, chi phí cho tiếp viên, tổ lái. Cứ mỗi chuyến bay phục vụ “công du” như thế ngốn của ngân sách không dưới 400 ngh́n, có chuyến tốn hơn cả triệu đô la Mỹ. Năm 2000, khi mà khoảng hơn 40% dân số Việt Nam vẫn sống dưới mức 1 USD/ngày, các nguyên thủ của nhiều quốc gia giàu có, đến New York dự họp Đại Hội Đồng Liên hợp Quốc, đă phải “kính nể” chứng kiến chiếc chuyên cơ chở Chủ tịch Trần Đức Lương đậu nhiều ngày trên sân bay JFK. Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, người kế nhiệm ông Lương, có những chuyến công du, đă định trưng dụng tới 2 máy bay loại mới. Trong thời gian điều máy bay theo hầu nguyên thủ, Việtnam Airlines thường phải “thuê nóng” một máy bay khác để thay thế. Giá thuê rất cao, tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể “thuê nóng” được máy bay, thế là, Viêtnam Airlines đành phải hủy hay giảm chuyến, dẫn đến t́nh trạng máy bay bị “đ́- lây” liên tục. Hành khách, không biết lỗi này do bởi “chuyên cơ”, mạt sát Hàng không cả trên báo chí. Các nhà lănh đạo của ta khi đi công tác trong nước, tiết kiệm hơn, chỉ dùng “chuyên khoang” thay cho chuyên cơ. Tuy nhiên, nhà chức trách hàng không ở các sân bay, để… chủ yếu, làm vừa ḷng “các anh”, đă áp dụng “chế độ chuyên cơ” cho những chuyến bay có “khoang chuyên” đó. Theo quy chế, sân bay sẽ bị “đóng cửa” khoảng 30 phút chờ máy bay bay theo “chế độ chuyên cơ” cất hay hạ cánh. Có ít nhất 10 chuyến bay phải nằm đợi dưới sân hoặc lượn trên trời cho một chuyến “chuyên cơ” như thế. Chi phí cho mỗi giờ bay chờ như vậy tốn khoảng 10.000 USD/máy bay. Hiện nay, Việt Nam là nước duy nhất áp dụng quy định tạm “đóng cửa sân bay cho chuyên cơ”. Thật xấu hổ khi bay vào lănh thổ một nước nghèo như Việt Nam, mà lại nghe phi hành đoàn xướng lên: “V́ có hoạt động chuyên cơ, máy bay phải lượn chờ trước khi hạ cánh”. An toàn cho các vị nguyên thủ cũng cần thiết. Tuy nhiên, trong hàng không, an toàn là một tiêu chuẩn phải tuân thủ tuyệt đối, bất kể hành khách là thường dân hay chính trị gia. Không một chuyến bay nào được phép cất cánh nếu có bất cứ một nghi vấn nhỏ nào về vấn đề an toàn. Chính v́ thế mà trừ những quốc gia lắm tiền nhiều của hoặc có vấn đề về khủng bố, an ninh, hầu hết các nguyên thủ, đều di chuyển bằng máy bay thương mại. Khi phải mua vé, thay v́ trưng dụng hẳn một chiếc Boeing, các vị nguyên thủ, cũng sẽ không kéo theo quá nhiều “bầu đoàn thê tử”. Trên “phương diện quốc gia”, trong những t́nh huống cần thiết, các vị nguyên thủ hoàn toàn có thể sử dụng một chuyến bay riêng. Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển của ngành hàng không như hiện nay, xài “chuyên cơ” chỉ có ư nghĩa lấy le với thiên hạ. Có thể lănh đạo ở các quốc gia khác không quan trọng như ta. Nhưng, không phải tự nhiên mà ở những nước có GDP/người lên đến 20.000- 30.000 USD, các vị nguyên thủ vẫn không dùng chuyên cơ. Uy tín của các chính trị gia, không hơn thua ở chỗ sử dụng máy bay nhỏ hay to, mà ở chỗ, các vị ấy có biết trân trọng tiền của dân đóng thuế. …. PS: Một nhà ngoại giao sau khi đọc bản thảo bài này đề nghị bổ sung: Các vị đang đi sứ ở các cường quốc, mỗi khi về nhà là lại được gợi ư, “Cậu làm thế nào cho nó mời ḿnh chuyến nhỉ!”. Ông bảo, có những nước thực sự muốn mời; có những nước muốn có bang giao tốt đẹp nhưng thấy lănh đạo không cần thiết phải qua lại làm ǵ; nhiều nước rất khó chịu khi phải tiếp đón. Lănh đạo người ta công việc nhiều, ḿnh đến lại chẳng làm sang được ǵ cho họ. Cứ theo dơi báo chí, truyền h́nh th́ thấy, nhiều khi lănh đạo ḿnh sang, rầm rập chuyên cơ mà báo chí nó không có một ḍng cho phải phép. Việc kư kết trong các chuyến công du cũng chỉ chủ yếu là do các công ty PR dàn dựng, sao cho đẹp mặt. Tinh ư, sẽ thấy, các “bản ghi nhớ” được kư vô cùng hoành tráng ấy, rất hiếm khi thành hiện thực. |
|
|
| lehung |
Posted: Apr 3 2008, 09:16 AM
|
|
Nhóm G7 Group: Thành viên tích cực Posts: 71 Member No.: 19 Joined: 11-August 07 |
Quấy ơi là Quấy! Quấy có biết "mấy" bác nguyên thủ nhà ḿnh đi chuyên cơ bằng tiền do các doanh nghiệp, tập đoàn đi theo tài trợ ko??
Nói luôn cho vuông nhé, báo nhừ ḿnh thích đi thăm ngoại giao cùng Thủ tướng ngoài xuất mời mấy ông chính luận th́ cứ đăng kư rồi đóng 28.000 đô nhé! Bảo bác Pḥng đặt lấy một hai xuất rồi tớ môi giới cho! Mọi thứ khi đó cứ gọi là đỉnh: măng sét báo nhà chạy trên các ấn phẩm đón đoàn, tại khách sạn và trong danh sách cầm tay của vài trăm nhân viên mật vụ; bác Tuấn và bác Pḥng cứ vênh mặt bắt tay ké với đoàn ngoại giao mặc cho mấy bác Nhân Dân, QĐND chạy tới lui chụp h́nh, đưa tin. Oai chưa!!! |
| Guest |
Posted: Apr 4 2008, 02:05 PM
|
|
Unregistered |
Kinh nhẩy. Xem ra các bác nhà báo cũng maphia thế kia đấy. Bác lehung cũng không "đơn giản" nhẩy.
Sợ văi cái kiểu tài trợ thế nhỉ |
|
|
![]() |
![]() ![]() ![]() |