| · Lưu ý trước khi post bài · Portal |
Help
Search
Members
Calendar
|
| Welcome Guest ( Log In | Register ) | Resend Validation Email |
| Kiều Anh Hýõng | Posted on Aug 21 2010, 04:28 AM |
| Cảm ơn bạn phutholx1989 đã chia sẻ ! Chúc bạn luôn vui, khỏe và hạnh phúc ! |
|
| phutholx1989 | Posted on May 31 2010, 09:56 AM |
| Đọc những bài thơ này dù có bài viết đã lâu nhưng người đọc vẫn cảm nhận được rõ nét cảm xúc, âm vị mà tác giả gửi gắm thông qua những góc nhìn, cảm nhận, miêu tả về những năm tháng khói lửa bi thương nhưng cũng rất đỗi hào hùng. Chân thành cảm ơn anh. Chúc anh luôn vui, khỏe và có những sáng tác thật hay chia sẻ cùng diễn đàn Phongdiep.net nhé. |
|
| Kiều Anh Hýõng | Posted on Apr 13 2010, 02:18 AM |
| 2. CÕI LÒNG NGƯỜI LÍNH (Nhân đọc “ Gặp lại tuổi hai mươi “ của Kiều Anh Hương) Bài viết của Nhà văn Nguyễn Quang Hà - Nguyên TBT Tạp chí Sông Hương Ngay bài thơ in đầu tập “Vùng trời thánh thiện“ có hai câu đã làm tôi giật mình, làm tôi choáng ngợp : “Những lo toan năm tháng đời thường Như tấm áo chật choàng lên khát vọng ..” Những người sống được chăng hay chớ, sống “nước chảy bèo trôi..” không thể có được tâm trạng dằn vặt cho “khát vọng” của mình đến vậy. Tôi gấp sách lại, đoán xem đường đi của tác giả trong tập thơ này..? Anh vốn là một người đã có ít thơ đăng trên tạp chí Sông Hương của Huế chúng tôi, nhưng chưa có một câu tâm trạng nào viết thành thơ hay thế. Mở sách đọc tiếp, bài “Cao thấp”, vẫn tâm trạng thăm thẳm ấy : “... Bây giờ Chúng mình lớn lên Những trang đời úp mở... Những đồng tiền sấp ngửa Đỏ den...” Tôi có cảm giác bão tố đang cuộn cuộn dâng trong Kiều Anh Hương. Đến bài thứ ba “ Tặng em gái Ngọc Hà “ : “Bài thơ nào viết cho Mẹ và Em Lời chân thật, bỗng trở thành xa lạ Cuộc sống mới cứ ù à, ù ập...” Lắng lại phút chốc, tôi bỗng nhận ra đây là con người cần thiết của cuộc đời này, của hôm nay, của cuộc sống đầy biến động vây quanh chúng ta từng ngày. Người không có trách nhiệm với cuộc sống có kẻ thì than thở, có kẻ thì quay mặt, có kẻ phát khùng chửi bới, cũng có kẻ dám đối mặt bằng chính thơ mình. Khi biết Kiều Anh Hương vốn là người lính trận mạc đã đánh Mỹ ở A-Lưới, Tà-Cơn, Động-Tranh và ngay cả ở Huế nữa thì tôi yên lòng. Chỉ có người lính thực thụ, đã dám sống xả thân, sống cho một khát vọng, bây giờ đứng trước những thời vận “đỏ-đen“ mới vật vã mình đến vậy. Tôi gỡ rối bằng cách lần tìm đầu mối của Kiều Anh Hương, rất may tôi đã gặp. Anh đã giải thích cái lẽ cầm súng của mình : ” Tháng giêng, tháng hai Cái mủng rách, mẹ mòn tay Qua nhà người mượn vay, cầm cố Em đói ăn khóc lả trên nôi Cha thì lo ngược rừng Kiếm củi kịp về chợ chiều đổi sắn..” (Đất Làng) Sự cơ cực là điểm xuất phát vùng lên của dân tộc này. Phải thấm nỗi đau, nỗi nhục hai triệu rưỡi người chết đói năm 1945 mới hiểu nỗi khát khao “độc lập”. Thế hệ đàn anh của chúng tôi cũng lên đường cùng một cảnh ngộ : “Quê hương anh nước mặn đồng chua. Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá“ chỉ có cách giải thích ấy mới hiểu được cội nguồn cái lẽ : “Kẻ thù buộc ta ôm cây súng“, vì “ta yêu sao làng quê non nước này“.. Cái quê hương của những người cầm súng chúng tôi có một tên gọi đầy hãnh diện : “Việt Nam“. Điều đó cũng lý giải được vì sao khi chúng tôi đi trong hàng ngũ cách mạng thì coi cái chết nhẹ như lông hồng. Những người không cùng thời khó hiểu được “Ngày hội của cách mạng“ là như thế nào và Kiều Anh Hương đã nói rất đúng tâm trạng của chúng tôi, thế hệ chúng tôi thời ấy, thời khát vọng tự do đã gặp được chân lý : “Họ đã sống một thời sáng choang quả cảm Không sợ đói nghèo Chỉ sợ không được đi đánh giặc“.. ( Nhớ một thời ) Đội ngũ những người lính đúng là “người ngươi, lớp lớp“, dù hoàn cảnh nào, dáng đi của họ vẫn hiên ngang. “Quãng đời vai quàng súng Chân dép lốp lội rừng Lưng cõng đầy gió núi..” (Thấy lại tuổi hai mươi ) Đó là một dòng thác hăm hở, dòng thác xuyên rừng, băng qua mọi gian lao : “Mồ hôi đẫm ướt ba lô Súng quàng vai, lá nhấp nhô điệp trùng..” ( Ở rừng ) Song nói tới người lính là phải nói tới súng đạn. Chính ở chỗ đó mới là nơi đích thực thử thách khát vọng của mình, mới là nơi đủ chứng cứ để nói rằng đâu là “dạ sắt, gan vàng”. Kiều Anh Hương tả “Cái hầm trên đèo“ của mình trong tư thế của người lính ấy : “Sáng sáng, mưa bom Chiều chiều, bão đạn Đêm đêm, pháo sáng Hầm vẫn bám đường..” Và rồi ở chốt “Tà Lương” chỉ cách Huế chừng ba chục cây số... thao thức chờ từng đợt bom thù dội trên đầu, không biết liệu mình có sống qua được sau trận bom tiếp theo. “ Tà Lương, một ngày không tính bằng một ngày Chỉ được tính bằng những lần đang thức Bom B.52 không chia thành khoảng cách “... Có chờ bom B.52 trong đêm mới hiểu mỗi giây trôi qua nặng nề đến thế nào! Nhân cách người lính là ở chỗ đó, dám đối mặt với bom đạn, nói cách khác là không sợ chết - Tức là dũng cảm! Người Quảng Trị đã tổng kết : Mỗi người dân Vĩnh Linh chịu bình quân 7 tấn bom trên đầu. Chiến trường Huế cũng không thua gì chiến trường Quảng Trị đâu. Nghiệt ngã vô cùng. Không chỉ bom đạn nghiệt ngã, mà cả miếng ăn cũng nghiệt ngã. Có lá thư của anh em viết ra, suốt bảy ngày không có cơm để dán phong bì. Có người chết vì đói quá, ăn phải quả độc. Phải ở chiến trường miền Nam những năm đánh Mỹ mới hiểu thế nào là bom đạn, đói khát. Có lúc trong mặt trận Thừa Thiên, nơi mà Kiều Anh Hương đã sống, chúng tôi đã tâm sự thật với nhau rằng : nếu ai sống ba năm, kiểu sống của người lính chúng tôi ở đất Thừa Thiên đói cơm, đói đạn nhường ấy đã xứng đáng là anh hùng rồi. Sống kề bên cái chết như thế, súng đạn dạy con người ta lòng nhân ái. Những kỷ niệm năm tháng nặng lòng đã cho Kiều Anh Hương những tứ thơ thật hay : “Chỉ có trái tim bè bạn Mới nhận ra nhau Giữa cuộc đời thường..” ( Cao thấp ) Tôi tin rằng người lính, vâng người lính, đã trả giá cuộc đời bằng máu xương mình nên họ bao giờ cũng nhân ái. Tôi rất đồng ý với Kiều Anh Hương khi anh nói : “Tấm màn lính quây tròn kỷ niệm Vẫn phồng căng hơi thở bốn phương trời “ (Đêm ký túc xá) Tôi dám nói vậy, vì tôi đã đọc ở đâu câu thơ này : “Từ khi gắn ngôi sao vàng trên mũ, ta đã là con của vạn nhà“. Chính người chiến sĩ Việt Nam là người có hạnh phúc nhất, vì đi đến đâu họ cũng có “Người Mẹ”. Bất cứ người mẹ Việt Nam nào cũng gọi các anh bộ đội là “Con”. Có chuyện thật này : anh bộ đội trong hầm bí mật. Mỹ – Ngụy tới, bắt mẹ tra khảo. Chúng lấy tôn quấn quanh Mẹ, dùng rơm đốt nóng dần, nóng dần. Mẹ vẫn không khai. Cuối cùng Mẹ chết. Người lính lên hầm, mở tôn ra, da thịt Mẹ dính vào tôn. Anh bất giác oà khóc và gọi : “Mẹ ơi !”. Không có tình cảm ấy, Kiều Anh Hương không thể có được những câu nghĩ về bạn bè mình sâu nặng đến thế, dù lúc đó anh đã ngồi trên ghế trường Đại học : “Biết giờ này bạn ở nơi nào Rừng biên giới hay sóng xô hải đảo Mảnh trăng cuối tuần còn bên sườn núi Cánh võng phập phồng... giấc ngủ có tròn không ?” (Đêm ký túc xá) Kiều Anh Hương gắn bó lòng mình với đồng đội như thế đấy. Và phải thật là người lính anh mới nhìn Tổ Quốc mình một cách hết sức rạch ròi. Đau đấy, có lúc thật đau, nhưng bình tĩnh. Chả thế mà chỉ trong một bài thơ, hai khổ thơ để cạnh nhau, anh đã thấy Tổ Quốc mình dáng vươn vai đứng dậy hào hùng, dẫu mới 25 năm. “Tấm huân chương năm một chín bảy lăm Không đổi được áo cơm cho con thời hậu chiến... ..... Năm 2000 đến thật rồi kia Con chợt thấy trên ngực cha lấp lánh Tấm huân chương cuộc đời Được tô lại bằng mồ hôi, nước mắt Bằng trái tim kiêu hãnh làm người ..” (Tấm huân chương cuộc đời ) Tôi hiểu hình tượng “Cha“ trong thơ Kiều Anh Hương là Tổ Quốc. Vậy Tổ Quốc chúng ta kiêu hãnh làm sao. Đọc ba câu đầu, tôi giật mình. Đọc tiếp năm câu sau, tôi trút một hơi thở dài khoan khoái, như trút được một gánh nặng. Kiều Anh Hương rất giản dị giải thích những trạng thái tâm hồn mình, có lý, có tình : “Một chút hương hoa thôi Cũng thoảng thầm bao thương nhớ“. Đọc thơ Hương, quả thật tôi như được sống lại tuổi hai mươi của đời mình. Chúng tôi được sống đến hôm nay đã là may lắm. Đại đội tôi 155 đứa, bây giờ chỉ còn 39 đứa đây. Càng thương nhớ bạn càng hiểu cuộc đời. Sự cảm thông ấy giúp tôi gặp Hương ở cái mối hàn nối hiện tại bây giờ với quá khứ ngày xưa : “ Tôi thắp lên thơ tôi một nén trầm Để nhớ về bao đồng đội “ Thơ Kiều Anh Hương là một tấm lòng người lính Trị Thiên. Huế, ngày 22/12/2001 N.Q.H |
|
| Kiều Anh Hýõng | Posted on Apr 13 2010, 02:11 AM |
| MỘT SỐ BÀI VIẾT, PHÊ BÌNH VĂN HỌC ĐỐI VỚI TẬP THƠ "GẶP LẠI TUỔI 20" 1. CHÁY BỎNG NHỮNG “SUY TƯ TRƯỜNG SƠN” (Nhân đọc bài thơ : “Suy tư Trường Sơn” in trong tập “ Gặp lại tuổi hai mươi”)* NHÀ THƠ : THANH THẢO Nhân ngày 22/12, xin được bình một đoạn thơ trong tập thơ này : “Con đường ta đi trong mù sương Bom thù dội, cháy lưng đèo trước mặt Con gõ kiến cúi đầu: Cộc ! Cộc ! Bên gốc thông khói cuộn hương buồn... Con tắc kè đếm thời gian vô tận, vô cùng ! Con khỉ sải từng cánh tay Đếm cây rừng cao thấp Con hổ lặng thinh bên rừng già hun hút Nín chờ những bàn chân người lính đi qua ... Con nhện chăng tơ, rối cả mắt trẻ trai Con mối đùn lên làm nấm mồ khô khốc ? Chỉ có những câu thơ trong cổ tích Làm dịu nỗi đau của rừng.. Khi tiếng chim cu gáy vọng cuối đường Là khi chú tắc kè Giã vào đêm thăm thẳm .. ánh sáng chói vàng trong tầm mắt Bỗng tối sầm sau vách núi thung sâu ! Bài thơ gây xúc động với những hình ảnh sinh động về Trường Sơn, những hình ảnh mà dẫu ai đã qua Trường Sơn một lần trong chiến tranh, chắc còn nhớ mãi. Nhưng cái suy tư đau đáu của bài thơ này lại nằm ở phần cuối, ở những dòng thơ cuối: “Nhưng mỗi khi nhớ về những cánh rừng Trụi lá, Chĩa lên trời xanh như triệu triệu cánh tay Khẳng khiu, đen đủi, Có khi nào lòng ta chợt hỏi : Rừng ơi, ngươi có trách ta ? Trường sơn ơi, người có trách ta ? Xin đừng hãt nữa lời ngợi ca, Hãy cứu lấy những gì còn sót lại ! “ Tháng 9.1978 Sau 23 năm, bây giờ càng thấm thía với lời cảnh báo trong bài thơ của một người lính, hồi ấy còn rất trẻ. Hãy giữ lấy Trường Sơn, cả những cánh rừng và cả những kỷ niệm, hãy bớt ngợi ca đi và hãy hành động, để cứu lấy những cánh rừng. Bọn quan tặc và lâm tặc đang đốn ngã cả những gì thiêng liêng nhất mà chúng ta hằng đổ máu để gìn giữ. (*) Bài viết đã in trong tập nguyệt san “Kiến thức gia đình“ – phụ san của báo Nông nghiệp Việt Nam, tháng 12/2001, trang Thanh Thảo và Thơ. |
|
| Kiều Anh Hýõng | Posted on Apr 12 2010, 02:17 AM |
| Bài cuối cùng trong tập thơ 50. MẮT BIẾC NGÀY XƯA ! Lại những đêm nồng nàn hoa sữa Gió vô tình vương qua hồn tôi Để chợt nhớ một khoảng trời xa ngái Dáng em như ngôi sao ban mai ! Có thể rồi nắng sẽ tràn vai áo bạc, tóc phai, Tất cả chỉ còn là ký ức Có thể rồi mưa ướt mắt Không bến không bờ, Mãi mãi Anh không Em ! Có thể rồi tất cả sẽ lãng quên Nhưng mắt biếc thì mãi xanh muôn thuở Ước gì cái ngày xưa ấy Lại quay về ngập tràn hồn tôi ! Một chút hương hoa thôi Cũng ấm nồng thương nhớ ! Hà nội 10/2000 --------------------------------------------------------------- Gặp lại tuổi hai mươi Thơ - Kiều Anh Hương Nhà xuất bản Hội nhà văn- 65 Nguyễn Du – Hà Nội Tel & Fax : 04.8222135.Email : nxbhoinhavan@hn.vnn.vn. Chịu trách nhiệm xuất bản : Nguyễn Phan Hách Biên tập : Phòng văn học trong nước Vẽ bìa : Lan Hương Sửa bản in : Bích Ngọc. |
|
| Kiều Anh Hýõng | Posted on Apr 11 2010, 01:36 PM |
| 48. TẢN MẠN HUẾ, NGÀY GẶP LẠI ! Thân tặng nữ ytá Bích, Lương Bệnh viên 217-Trường Sơn-Anh hùng Có một khoảng trời trong mắt Huế tôi thương Mười bốn năm rồi, Bây giờ gặp lại Ơi cô gái của miền Kinh Bắc Ngọn gió nào đưa em về đây. Nơi Cố Đô yêu, ta lại cầm tay Nhưng không phải để âu lo, thao thức Chiến thắng rồi, thôi em đừng khóc Nhắc chi hoài chuyện cũ, năm xưa.. Gió A-Sầu và nắng sông Hương, Làm nước da em bây giờ xạm lại Nhưng ánh mắt biếc xanh thì mãi mãi Không bao giờ phai nhạt trong anh ! Tuổi hai mươi cho ta gặp nhau Giữa chiến trường một thời tàn khốc Anh đã vượt qua tử thần, Khi sự sống chỉ như còn " Ngàn cân treo sợi tóc.." Cũng bởi vì máu thắm tình Em ! Thương Huế rồi, nay anh càng yêu hơn ! Đèo 40 Trường Sơn 1974 Huế - 1988 49. KỶ NIỆM 10 NĂM VỀ TRƯỚC Kính tặng Trường ĐHBK Hà Nội 25 tuổi Mười năm trước , anh đã đến với trường Ươm một chồi non dọc con đường đôi ấy Bom giặc Mỹ rơi vào lòng Hà Nội Những mầm non nương nhau vươn lên Không còn ai có thể ngồi yên Cả nước dồn ra tuyến lửa Trời Lạng Sơn, những ngày sơ tán Đốt cháy lòng bao cuộc tiến đưa.. Mười năm anh đi, cây đã lên xanh Dưới bóng mát hàng cây, bao lớp người tuổi trẻ Qua con đường đôi - bước lên bục giảng Say sưa nói về tương lại ... Bây giờ anh trở về đây, Bên những giảng đường cao lộng gió Có những phòng học đơn sơ vừa dựng vội Vữa vôi thô, bàn ghế mới thơm nồng Chiếc bàn xinh màu gỗ xà cừ Tuổi cũng vừa tròn 10 năm thương nhớ Cuốn sách đẹp lật từng trang mở Hai mươi lăm năm - mái trường Bách Khoa ! Hà Nội 24/10/1979 |
|
| Kiều Anh Hýõng | Posted on Apr 10 2010, 03:21 PM |
| 46. TẤM ÁO MÙA ĐÔNG Khi ngọn gió bắc xoáy về Luỹ tre làng xào xạc Con chim nhỏ nào Bay đi tìm tổ mới nơi phương trời xa lắc.. Để lại những nhành khô Mù đông ! Mùa đông ! Bao người khoe sắc ấm Tím đỏ trăm màu vời vợi Hoa vương đầy trên áo những lứa đôi Cứ mỗi lần, mỗi lần cánh chim bay xa Cây xoan dâu ngõ nhà tôi trơ những nhành khô bé bỏng Là mỗi lần tôi mặc tấm áo Nhớ mãi một bàn tay... Hà Nội 1979 47. NHỠ HẸN Anh đến Bất ngờ Không gặp ! Cái buồn Dọc theo Đường về. Bấm ngón tay, Tính ngày tháng Chợt hiểu rằng : - Mười ngón còn... So le ! Hà nội 10-1979 Kiều Anh Hương |
|
| Kiều Anh Hýõng | Posted on Apr 10 2010, 06:58 AM |
| 44. KHOẢNG CÁCH MỘT CÂU THƠ "Câu hát từ môi em cất lên và đậu xuống môi anh" Dòng thơ ấy tôi đã thuộc lòng Đến nỗi không còn nhớ rõ Em đã chép tặng tôi ! Chiều nay qua nhà em Tiếng đàn ai xao xuyến Tiếng hát ai cất lên như lỡ nhịp Bâng khuâng không nơi đậu xuống Để căn phòng bỗng dưng chật chội Âm thanh ứ đầy, cứ chạm vào nhau .. Để rồi tan ra Để lại hợp vào Để hai đứa lặng im ở giữa Để tiếng đàn không tắt được Để lời ca không tắt được Để khoảng cách hai ta Cứ ngắn lại và Lặng im ! 17/3/1983 45. KHI TÌNH YÊU LẠI ĐẾN Cầm đàn lên, lòng lại thoáng buồn Biết hát được bài ca gì người hỡi Hoa chi nở vừa thơm, vừa đắng Đầu ngõ nhà em lã chã lá vàng rơi.. Đã mấy mùa đông đốt lửa lên rồi Lửa lại tắt, lại gió lùa cóng buốt So lại phím đàn, lòng thêm ngơ ngác Tiếng trầm rung như muốn vỡ ngực mình ! Cánh chim lẻ loi bay qua chiều buồn Tiếng gọi bạn, cũng lạc nhoà trời đất Đâu khoảng trời xanh - âm thanh cao vút Và trái tim gõ nhịp bài ca ... Nhưng bất chợt, sáng mai nay Câu hát cũ đến nao người bừng dậy Ôm đàn lên - mùa xuân về rồi đấy Em đến kia - tia nắng ấm trong ngần... 10/1980 |
|
| Kiều Anh Hýõng | Posted on Apr 9 2010, 01:51 AM |
| 42. BÀI THƠ VIẾT TẶNG EM NGÀY 30 THÁNG TƯ Tặng Thọ Không thể cứ lặng im Sau tháng năm trôi Vết bỏng thời gian còn đầy dấu sẹo Em ngã xuống đúng ngày độc lập. Khi triệu triệu người hát khải hoàn ca .. Chen giữa Sài Gòn đỏ rực cờ hoa Anh tìm đến một toà soạn báo Với bài thơ chia biệt xót xa Mong được sẻ chia cùng em và đồng đội Nhưng chiến thắng men say còn đó Nên bài thơ ai đã vô tình Ném vào quên lãng Để anh và Em Cùng khắc khoải đợi chờ Từng ngày, từng phút Bài thơ in viết đề tặng Em Bài thơ xưa Sẽ không bao giờ còn được lên khuôn Như Em đã ra đi Mãi không bao giờ trở lại Nhưng anh vẫn rất tin , rất tin Triệu triệu người sẽ thấy Bóng Em vươn lên phía mặt trời Khi Sài Gòn vừa thức dậy Trong tiếng súng rền ba mươi tháng tư ! Em ơi, Giây lát ấy .. Bóng Em còn hơn cả một đài thơ ! Hà nội ngày 30 tháng 4 năm 2000 43. KHÚC HÁT CON CÒ Câu hát xưa : Con cò-con vạc Lặn lội chi tháng ngày .. ? Tôi thương con cò thơ ngây Suốt bốn mùa soi gương áo trắng Tôi ghét con bội bạc Lén ăn cá đồng tôi... Tôi nhớ con cò bay trong ca dao Nhớ khuôn mặt bà rúm răn mưa nắng Tôi nhớ những cánh cò lấp lánh Vội vã bay trong ráng rựng hoàng hôn... Bài hát bà tôi - từ rất xưa Lời hát mẹ tôi - thuở ấu thơ Khúc hát em tôi - thời khôn lớn Cánh cò đan nhau vào giữa cuộc đời ! Tôi lớn lên và tôi đi đánh giặc Bạn bè tôi lại làm thơ và hát Về con cò trong ca dao Thành nỗi niềm day dứt ... Cò ơi - vẫn trắng tinh khôi ! Hà nội 1980 |
|
| Kiều Anh Hýõng | Posted on Apr 8 2010, 01:20 AM |
| 40. GẶP LẠI NGÀY XƯA Tặng H.P Bất ngờ gặp lại "người ta" Người ta, tôi vẫn ngỡ là mình mơ ? Bất ngờ gặp lại câu thơ Lời yêu dấu kín tới giờ mới hay ? Tình đời ai dễ quên đâu Tháng năm tự nó đo sầu, đong vui Gặp nhau đâu chỉ biết cười Chuyện ngày xưa, vẫn sụt sùi trong em .. Thôi đừng trách cứ nhau thêm Non xanh nước biếc đã liền bến xưa Đục - trong con nước đôi bờ Tựa như nỗi nhớ đợi chờ chia hai ? Để thêm ngút ngát rộng dài Cánh chim mỏi cánh một trời nhớ thương Cái ngày xưa - cứ vấn vương ? Níu chân ai, để tìm đường vu qui !... Em ơi, nhỡ chuyến đò quê Ngày mai anh sẽ tìm về với em ! Hà nội, 1999. 41. HUYỀN THOẠI MỚI Kính tặng cố giáo sư-Tiến sĩ Phan-Phải * Hỡi những thần linh, đấng tối cao của muôn loài... Con chim trời đã đem tình yêu về cho Người Đẹp** Những tà thuyết về cỏ cây sinh vật, Bông hoa cũng của ngươi cho Con Người phải biết ngắm nhìn hoa và sống một cuộc đời đói nghèo nhẫn nhục... nở rồi tàn héo. Số phận đã ngự trị ở trên đầu, Hãy lặng im - Hạnh phúc chỉ là điều cảm nhận ! Nhưng chúng tôi đã cầm súng xuyên qua giữa rừng đêm Bông hoa Em ngập ngừng trao anh ngày nhập ngũ Không phải để ngắm nhìn nhau Nước mắt từng thấm ướt vai người ra mặt trận Đất đai như một lời thề Hạnh phúc là những điều rất thật Như cây lúa đó thôi, hạt mẩy, bông dầy.... ta vẫn thầm ước ao... Tôi cầm trên tay bông hoa Anh trao Bông hoa cổ xưa nhất anh vừa tạo lại Và bông hoa của nghìn năm sau huyền thoại Bắt đầu từ những gì ta gặp hôm nay... Bông hoa trăm cánh trăm màu Bông hoa của khát khao hy vọng... Rồi những cánh đồng, lúa trĩu bông ram ráp bàn tay Hạt chín mẩy no tròn nắng mật Khuôn mặt Anh rạng ngời Hạnh phúc Riêng tôi ngơ ngác mắt nhìn... Ngày mai,ngày mai... Chẳng còn xa đâu, trên đất đai này, Khi hạt giống Mẹ gieo không còn sống cuộc đời xưa cũ Đất làng ta, ruộng khoanh vùng gối vụ, nước đủ, phân nhiều... Những huyền thoại về cây ngô, cây lúa Sẽ giục gọi tình yêu người với đất Sinh sôi thêm những mùa vàng.... Hỡi Em, Hạnh phúc ở quanh mình Vất vả đó - nhưng là điều rất thật ! Hà nội,1981 * Giáo sư-Tiến sĩ Sinh vật học Phan-Phải, là người đã có công rất lớn trong lĩnh vực lai tạo ra các giống lúa có năng suất cao ở Việt nam và nhiều loài cây trồng mới. ** Người Đẹp trong một bức tranh thánh cổ ở nhà thờ La Mã miêu tả về nguồn gốc người đàn bà đã sáng tạo ra thế giới con người. |