View Full Version: [B]Người kể chuyện lúc nửa đêm[/B]

Phongdiepnet > Tác phẩm yêu thích > [B]Người kể chuyện lúc nửa đêm[/B]


Title: [B]Người kể chuyện lúc nửa đêm[/B]


diepanh - June 25, 2007 09:03 AM (GMT)
Một tác phẩm thực sự đáng đọc bởi sự sâu sắc của những suy ngẫm và sự lấp lánh của ngôn từ

Người kể chuyện lúc nửa đêm

Nguyễn Quang Thiều

Loạt bài này đăng trên VieTimes

Chương 1

Ngày 5 tháng 4 tôi đến sân bay Chicago. Đây là lần thứ tư tôi đến Mỹ. Vậy là tṛn mười năm kể từ chuyến đi đầu tiên. Ngày ấy tôi ba mươi sáu tuổi. Những chuyến đi của tuổi trẻ lúc nào cũng hồ hởi, cũng hấp dẫn và đôi khi liều lĩnh. Nhưng ba mươi sáu tuổi th́ không thể gọi là c̣n trẻ nữa. Có thể mắc nhiều sai lầm, nhưng có một điều không được mắc sai lầm : đó là không được phép hăo huyền về chính bản thân ḿnh. Với tuổi ấy, nếu chưa chuẩn bị những ǵ cần thiết cho đường đời của ḿnh th́ không chuẩn bị kịp nữa.

Ngày ấy, đi Mỹ là một câu chuyện đối với cả người đi và người ở nhà. Trước đó, vào những năm tám mươi, một nhà văn đi Mỹ giống như một anh hùng. Lê Lựu là một anh hùng. Và chuyến đi của Lê Lựu đến Mỹ dệt lên bao câu chuyện đầy vẻ huyền thoại. Lê lựu đă gặp lại kẻ thù cũ của ông ra sao, Lê Lựu đă ứng đối xuất sắc với kẻ thù cũ của ông như thế nào… Lúc đó, người Việt Nam coi ông như một ông Trạng đi sứ.

Quả thực là như vậy. Sau chuyến đi Mỹ ông trở về và bắt đầu một “nghề mới ”: nghề thuyết tŕnh về nước Mỹ. Ông nói chuyện hay đến mức băng ghi âm cuộc nói chuyện của ông được phát hành không chính thức khắp cả nước. Người ta sao băng, cho mượn băng, bán băng. Lúc đó, băng của ông trở thành một cơn sốt hơn bất cứ abum của tất cả các ca sỹ nổi tiếng nhất ở Việt Nam thời ấy. Số lượng tất nhiên có thể không bằng, nhưng cơn sốt băng Lê Lựu th́ luôn luôn ở nhiệt độ cao. Bởi với tất cả những ǵ ông đă một ḿnh ứng đối trên đất Mỹ mà ông đă kể lại hàng trăm lần làm cho không ít người Việt Nam mang khoái cảm thắng Mỹ một lần nữa. Chiến thắng tinh thần h́nh như là một liều thuốc an thần cho những dân tộc nhỏ bé và ngèo đói.

Rồi sau đó, Lê Lựu xuất bản hai cuốn sách về hai chuyến đi liên tiếp: Một Thời Lầm Lỗi và Trở Lại Nước Mỹ. Đấy thực sự là hai cuốn best seller ở Việt Nam trong thời gian đó. Tôi cũng đi Mỹ sau chuyến đi của Lê Lựu vài năm, nhưng sau chuyến đi, tôi chẳng biết nói thế nào về đất nước này. Những câu chuyện đầy tính ṭ ṃ về nước Mỹ đă bị cơn băo khẩu khí của Lê Lựu quét sạch. Người đến sau như tôi giống kẻ đứng giữa sa mạc. Và trong lần thứ tư đến Mỹ, Đất nước này đối với tôi vẫn là một cái ǵ đấy vừa tự do vừa đe doạ, vừa khắc nghiệt vừa dễ dăi, vừa khó hiểu vừa giản đơn.

Đi chuyến đi dài này khi tôi đă bước sang tuổi bốn mươi sáu. Bởi thế mà tôi mang cảm giác cô đơn hơn, dè dặt hơn và nhiều lúc tâm trạng rơi vào trạng thái thật khó tả. Nhưng những chuyến đi xa lúc nào cũng quyến rũ tôi. Nó luôn luôn hé lộ cho tôi một điều ǵ đó. Sau mỗi chuyến đi, tôi luôn luôn nhận thấy ḿnh quá nhỏ bé, quá khờ khạo, quá ít hiểu biết trước thế gian này. Bởi thế đối với tôi, những chuyến đi làm cho tôi được sống nhiều hơn thời gian thực của cuộc đời ḿnh vốn có. Tôi biết được nhiều hơn những con đường, những ngôi nhà, những cái cây, những con người, những câu chuyện…Và những điều ấy làm tôi bớt đi trong ḷng ḿnh những phiền muộn, những tẻ nhạt, những tù đọng…

Chuyến đi đầu tiên kỳ vỹ nhất của tôi là chuyến đi từ bờ bên này sang bờ bên kia sông Đáy. Chuyến đi ấy khi tôi năm tuổi. Mẹ tôi sang quê ngoại của mẹ ăn giỗ và tôi được đi theo. Ngày ấy, hai bờ con sông chỉ cách nhau chừng hai trăm mét. Nhưng bờ bên kia quả là một thế giới kỳ vỹ đối với cậu bé năm tuổi là tôi.

Bờ bên kia với những lùm dứa dại chạy miên man dọc bờ sông. Bờ bên kia là một cây đa cổ thụ mọc đối diện với bến đ̣. Con đường nhỏ chạy từ bến nước lên đến gốc đa luôn mang một vẻ đẹp kỳ diệu. Và sau con đường kia, sau những lùm dứa dại, sau cây đa cổ thụ là những ngôi nhà ẩn hiện trong những ṿm lá, và sau tất cả những cái đó là dăy núi mờ xa.

Ngày c̣n bé, tôi thường ra bờ sông nh́n về phía bên kia sông trong những buổi chiều mùa hạ với trí tưởng tượng và ḷng khao khát vô bờ. Tôi thật sự phấn khích khủng khiếp khi bước chân lên mạn đ̣. Và khi tôi bước đến dưới gốc đa và ngước nh́n lên cây đa cổ thụ th́ người tôi run lên bởi một cảm giác lớn lao. Sự vỹ đại của những ṿm lá lớn đang vang lên bởi tiếng gió đă trùm phủ tôi và tràn ngập trong tôi. Có một uy lực nào đó trong những ṿm lá lớn từ trên cao đang chiếm ngự tôi. Cảm giác ấy và uy lực ấy đến bây giờ vẫn vậy. Có lẽ bởi thế mà sau này trong thơ của ḿnh, tôi thường viết về những cái cây. Những cái cây lúc nào cũng kỳ vỹ, lúc nào cũng đầy uy lực và luôn luôn toả sáng trong cả những đêm tối.

Chuyến đi nước ngoài đầu tiên là chuyến đi từ thành phố Hồ Chí Minh đến Phnong Penh – Campuchia cuối năm 1979. Ngày ấy, Campuchia mới được giải phóng và lính quân đội Việt Nam có mặt ở mọi nơi trên đất nước bé nhỏ này. Con đường từ phà Niếc Lương đến Phong Penh nham nhở dấu vết của những hố chống xe tăng.

Chuyến đi ấy người ta cần một người biết tiếng Anh và thế là người ta chọn tôi. Tôi phải mặc quần áo lính và mang theo súng AK báng gập. Trên đoạn đường ấy, chúng tôi phải ngồi quay mặt về phía sau để quan sát đề pḥng bị tàn quân Pon Pot phục kích. Đă có một vài chuyến xe như vậy bị súng chống tăng của tàn quân bắn. Phnong Penh những ngày đó c̣n tan hoang. Những người dân thành phố này bỏ chạy hoặc bị bắt dời khỏi thành phố trong thời Pon Pot vẫn chưa trở về. Trong vườn của những ngôi biệt thự, cỏ dại mọc tràn lan. Một người lính Việt Nam đă đưa tôi đi lang thang trong thành phố. Và bất chợt, tôi nh́n thấy một quả xoài sót lại trên cây trong một khu vườn.

Quả xoài chín vàng. Màu vàng ấy toả sáng rực rỡ trong một thành phố như đă chết. Sự toả sáng của quả xoài như niềm hy vọng cuối cùng và đầu tiên sau thời đại đen tối của chế độ diệt chủng. Nó như một đức hạnh c̣n sót lại của một dân tộc lầm lạc và rồ dại. Quả xoài như một ngọn đèn, như một ngôi sao, như một gương mặt người ẩn nấp đâu đó giờ xuất hiện.

Đêm đấy tôi đă làm một bài thơ ngắn về quả xoài. Đấy là bài thơ đầu tiên tôi làm với một sự ám ảnh. Và sáng sớm hôm sau, tôi đi qua khu vườn ấy. Tôi không c̣n nh́n thấy quả xoài nữa. Có thể ai đó đă hái quả xoài. Có thể quả xoài đă rụng trong đêm. Và có thể nó hiện ra cho tôi một lần và chỉ một lần rồi biến mất. Bài thơ tôi làm không thành công. Và tôi chính là kẻ đă không lưu giữ được vẻ đẹp ấy.

Khi nghệ thuật không đủ quyền lực th́ nó không thể giữ lại được vẻ đẹp. Tôi đă thất bại chỉ v́ khả năng thi ca lúc ấy của tôi quá vụng về. Tôi lúc đó là một thi sỹ không đủ quyền lực ngôn ngữ. Có lẽ bởi thế mà cho đến bây giờ, hơn hai mươi năm trôi qua, quả xoài ấy vẫn ẩn hiện đâu đấy trong kư ức tôi. Nó đợi một ngày nào đó, với khả năng ngôn ngữ của thi sỹ, lại hiện ra như một ngọn đèn, như một ngôi sao và như một gương mặt lấp lánh trong bóng tối của cái chết. Đấy là khát vọng của tôi và tôi nghĩ của mọi thi sỹ trong mọi thời đại.

Tôi quá cảnh ở sân bay Narita – Tokyo trên đường đến Chicago. Tôi ngồi hút thuốc và nh́n qua cửa kính. Tokyo đang mưa. Bầu trời xám nặng. Những giọt mưa rơi vào cửa kính và chảy thành một vệt dài. Thật ư nghĩa khi được ngồi im lặng, một sự im lặng thật sự, ở một nơi mà tôi không biết ai và cũng không ai biết tôi. Khoảng thời gian ấy, tôi đắm ch́m trong miên man bao ư nghĩ. Những người đến hút thuốc rồi vội vă ra đi.

Tôi nhớ lần đầu tiên tôi đi một ḿnh đến một nước tư bản – Australia. Tôi quá cảnh ở sân bay Singapore. Sân bay rộng mênh mông với hàng trăm cửa ra máy bay. Chính ở đấy, lần đầu tiên tôi thấy cô đơn vô cùng. Tôi ngồi im lặng ngắm những ḍng người của mọi quốc tịch vội vă đi qua và biến mất. Họ là ai ? Họ đi về đâu ? Ai đang đợi họ ? Họ mang trong ḷng những nỗi niềm ǵ ? Họ đang hạnh phúc hay đang khổ đau ? Họ đang được chờ đợi đón tiếp hay họ đang chạy trốn, đang bị truy đuổi ? Sân bay Singapore lúc đó như thế gian với bao số phận không thể sẻ chia, với bao câu hỏi không lời đáp, với bao cuộc hành tŕnh về muôn hướng khác nhau, với bao bí ẩn trong mỗi sinh linh kia, rồi những chiếc máy bay rời mặt đất vào không gian bao la, rồi có thể có những tai nạn xẩy ra, rồi biến mất măi măi.

Những đêm ngồi chờ máy bay để đi tiếp ở những sân bay quá cảnh nước ngoài, tôi thường có cảm giác muốn trở về ngôi nhà của ḿnh ngay lúc đó. Nếu có thể làm được điều đó th́ tôi chắc đă bỏ giữa chừng nhiều chuyến đi. Những bữa cơm tối b́nh dị trong ngôi nhà nhỏ cùng với những người thân bỗng hiện lên ấm áp lạ kỳ. Nhiều lúc tôi nghĩ, v́ lư do ǵ mà ḿnh để lại một chiếc ghế trống trong những bữa tối ấy. V́ lư do ǵ mà ḿnh lại có thể xa những đứa con bé bỏng yêu dấu của ḿnh để ngồi đơn độc ở một nơi xa lạ mà nếu có chuyện ǵ xẩy ra th́ ḿnh không thể về tới ngôi nhà của ḿnh được.

Thế nhưng sau mỗi chuyến đi xa trở về th́ một chuyến đi xa khác lại lên tiếng gọi ḿnh. Tiếng gọi ra đi cũng quyến rũ như tiếng gọi trở về. Nhưng dù thế nào th́ tôi cũng là người may mắn hơn nhiều bạn bè của tôi. Những chuyến đi mỗi lần lại chất thêm vào ḷng tôi những kỷ niệm. Tôi thấy ḿnh là một kẻ giàu có. Và tôi cũng thấy ḿnh buồn bă hơn.

Chuyến đi mà bây giờ vẫn c̣n lại trong tôi một sự lôi cuốn mạnh mẽ và một nỗi buồn da diết là chuyến đi Cuba gần hai mươi năm về trước. Đấy là lần đầu tiên tôi có một chuyến đi xa như thế. Ngày ấy tôi hai mươi bảy tuổi. Vợ tôi lúc đó đang thai đứa con đầu ḷng tháng thứ tám. Chỉ c̣n hơn một tháng nữa là con tôi ra đời. Tôi không bao giờ quên được đêm cuối cùng trước khi tôi đi. Tôi mệt quá và ngủ thiếp không hề tân sự với người vợ trẻ. Gần sáng tôi nghe tiếng khóc và tỉnh giấc. Vợ tôi đang khóc. Thấy tôi tỉnh giấc, vợ tôi cắn môi im lặng. Tôi quờ tay lên mặt vợ và thấy đầm đ́a nước mắt. Tôi hỏi v́ sao em khóc. Vợ tôi nức nở măi mới nói : anh ơi, anh đi em biết nuôi con thế nào? Đấy không phải là một câu hỏi. Đấy là một tiếng kêu.

Đúng như vậy. Vợ tôi sẽ nuôi con tôi như thế nào. Tôi không trả lời được câu hỏi ấy. V́ ngày ấy, tôi chẳng có ǵ trong tay. Không nhà cửa, không cả một chiếc xe đạp cũ để đi làm, không tiền tiết kiệm, không quá ba bộ quần áo. Và vợ tôi lúc ấy mới ra trường, chưa công ăn việc làm. Thời ấy là những năm tháng đói khát vô cùng. Tôi không biết vợ tôi sẽ nuôi con như thế nào. Tôi hoàn toàn không biết.

Lúc ấy, tôi muốn ở lại. Nhưng khi ban mai thức dậy th́ tôi vẫn quyết ra đi. Có hai người tiễn tôi ra sân bay làm tôi đau ḷng. Cha tôi và vợ tôi. Cha tôi lúc đó đă về hưu. Người luôn luôn sợ hăi về tôi. H́nh như tôi luôn luôn là sự bất trắc trong cuộc đời của ông. Vợ tôi lúc đó mang thai tháng thứ tám. H́nh ảnh một người phụ nữ trẻ, da trắng xanh, gầy g̣, mang một cái thai lớn tiễn tôi trong câm lặng và ngơ ngác làm trái tim tôi tưởng vỡ tan.

Khi tôi vào pḥng đợi của sân bay. Cửa kính đă cách biệt mọi âm thanh từ bên ngoài. Tôi quay lại và thấy cha tôi đang đứng đó. Ông đứng bất động nh́n tôi. Tôi chỉ nh́n thấy ông thôi nhưng không nghe thấy ǵ nữa. Cảm giác của tôi lúc đó giống như cảm giác của người đă chết. Linh hồn người ấy vẫn nh́n thấy người thân của họ nhưng không thể nào tṛ chuyện được nữa. Và lúc ấy, lần đầu tiên tôi mới thấy yêu và thương cha tôi thực sự. Lần đầu tiên tôi thấy gót chân tôi chạy đau trái tim ông suốt hai mươi sáu năm về trước.

Sau cha tôi là vợ tôi. Bất động và như vô cảm. Tôi muốn bỏ chuyến đi và quay về. Nhưng tôi đă quay đi. Chuyến bay từ Hà Nội đi Maxcova phải chậm lại v́ trời mưa quá to. Lúc ấy, ư nghĩ quay trở về lại ùa đến. Lẽ nào tôi sẽ đi xa nơi chốn kia và những người thương yêu của tôi. Nhưng tôi đă không quay trở lại. Con người tôi vừa yếu đuối vừa gía lạnh. Và tôi đă xa gia đ́nh bốn năm. Khi tôi trở về, con trai tôi đă bốn tuổi. Cháu gọi tôi là chú xưng con trong mấy tuần đầu sau khi tôi về nước. Bây giờ cháu đă mười chín tuổi. Thế nhưng tiếng kêu của vợ tôi trong cái đêm gần sáng cách đây gần hai mươi năm vẫn làm ḷng tôi đau đớn. Nhiều lúc, tôi nghĩ lúc đó tôi là kẻ nhẫn tâm. Cũng có lẽ v́ thế mà sau này trong mỗi chuyến đi xa, tôi không bao giờ cho vợ con tôi và người thân tiễn tôi. Tôi sợ nh́n thấy cảnh chia tay dù là chia tay trong khoảng khắc.

Chuyến bay đi Mỹ là chuyến bay dài nhất mà tôi từng đi. Trước kia đi Mỹ, tôi thường đi máy bay của hàng không Hàn Quốc. Từ Seoul đi New York thường mất mười bốn tiếng đồng hồ. Từ Tokyo đi Chicago gần hơn hai tiếng. Nỗi sợ hăi nhất khi ngồi trên một chuyến bay dài như thế không phải là một tai nạn. V́ tai nạn có xẩy ra th́ ngay sau đó người ta chẳng c̣n biết ǵ nữa. Mà nỗi sợ hăi lớn nhất chính là mang cảm giác của sự bất động. Người ta không có cảm giác người ta đang bay với tốc độ ghê gớm ( khoảng 900 km/h). Tất cả như đứng im. Tất cả như đă chết. Tất cả như đă cách biệt hoàn toàn với thế gian.

Lúc đó, tôi thèm được nh́n thấy tán lá si xao động trong gió trên ban công tầng hai nhà tôi. Thèm được nghe tiếng chuông gió vang lên lúc gần sáng khi trời trở gió. Những chuyến đi Mỹ trước đây, hầu hết thời gian tôi ở nhà một người bạn, một nhà thơ Mỹ, Kevin Bowen. Trên mái hiên cổng sau của nhà ông có treo những chiếc chuông gió. Tôi đă có những buổi chiều ngồi đó cho đến khi bóng tối tràn ngập ngôi nhà và nghe tiếng chuông gió vang lên. Và lúc đó, tôi nhận ra tôi thực sự là một kẻ lăng mạn và yếu đuối. Tiếng chuông gió luôn làm tôi thổn thức. Âm thanh giản dị ấy vang lên thật mơ hồ và lan xa, xa măi. Tiếng chuông gió làm cho không gian trở lên thanh sạch lạ kỳ. C̣n trên máy bay, tiếng động cơ ŕ ŕ như ở một thế giới khác. Ngồi trên máy bay ở độ cao 10.000 mét như vậy, chỉ có duy nhất một h́nh ảnh hùng vĩ và bi tráng nhất mà một lần tôi nh́n thấy ; ban mai.

Lúc ấy, chiếc máy bay tôi đi đang bay trên một thảo nguyên mây bất tận. Và ban mai thức dậy trên thảo nguyên mây ấy. Một không khí cổ xưa tràn ngập con người tôi. Cho đến bây giờ tôi vẫn tin đó là h́nh ảnh chính xác của ban mai khởi nguyên. Hùng vĩ và bi tráng. Đơn độc và tinh khiết. Lúc đó, tôi như một cái cây, như một con thú nhỏ ngước nh́n ban mai với sự quyến rũ vĩ đại mang đầy sợ hăi và bừng tỉnh. Lúc đó, sự rực rỡ của ban mai ùa vào tôi như sự ban phước của Đấng tối cao. Giá lạnh, bóng tối, cô đơn…vụt tan biến. Thay vào đó là sự hân hoan như một tiếng rống vang bỗng dội lên.

Không. Dù có nói thế nào th́ tôi cũng không tả hết được h́nh ảnh ban mai ấy. Cảm giác lúc đó làm con người muốn oà khóc. Nó như ban mai đầu tiên sau bất tận của bóng tối, của giá lạnh và cô độc. Nó không giống bất kỳ ban mai nào trên trái đất mà tôi đă gặp. Bởi trên lưng trời kia tôi chỉ có một ḿnh. Tôi giống như một người cổ đại đứng trên đỉnh đồi trước ban mai và hú lên trong sự cô độc đến kinh hăi và hân hoan thống thiết.

Hành khách quanh tôi đang ch́m sâu trong giấc ngủ. Mà cho dù họ có thức th́ sự hiện diện của những con người xa lạ kia liệu có ư nghĩa ǵ với tôi không ? Ôi ban mai, ban mai, người chảy trong máu thịt tôi với toàn bộ sự tinh khiết, rực ấm, sinh sôi, bất tận, huy hoành và cả thổn thức. Người đă cứu tôi ra khỏi bóng tối của giá lạnh, sợ hăi và cô đơn.

------------------

Chương hai: Giấc mộng thứ nhất

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều

diepanh - June 25, 2007 09:29 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (Chương II)

Chương Hai: Giấc mộng thứ nhất

Khi càng xa tuổi trẻ, người ta càng gần những giấc mộng. Những năm gần đây, tôi càng gặp giấc mộng nhiều hơn. Một phần do những biến đổi tâm sinh lư khi người ta ngoài bốn mươi tuổi. Tôi đă sống trên thế gian này gần một nửa thế kỷ rồi. Nhiều chuyện có thể đă biết đúng sai. Ít đau buồn hơn nhưng đau buồn là đau buồn thực. Ít niềm vui hơn nhưng niềm vui là niềm vui thực. Tôi đă biết những hăo huyền của đời sống này.

Một điều nữa làm tôi những năm gần đây hay có những giấc mộng là v́ những dày ṿ, những suy ngẫm và cả sợ hăi và cô đơn. Những điều ấy vẫn vây bủa tôi, đẩy tôi vào chân tường và bắt tôi trả lời một câu hỏi mà tôi không trả lời được : Đời sống mi đang sống có thực sự là đời sống không ? Nhưng bây giờ th́ tôi tin giấc mộng chính là khoảng khắc sống liền mạch của đời sống tôi đang sống.

Chuyến bay từ Tokyo đi Chicago là một chuyến bay quá dài, khoảng mười hai tiếng. Trong cái khối kim loại h́nh thoi ấy, người ta để mặc số phận cho Thượng đế. Đối với vũ trụ vô hạn này, th́ chiếc máy bay không bằng một hạt bụi. Trong chặng đường bay như thế, người ta mất hết cảm giác và khái niệm về thời gian và không gian. Năm 1993, trong chuyến đi Mỹ đầu tiên cùng tôi có nhà văn Lê Thị Minh Khuê. Và trong chuyến bay mù mịt ấy, Lê Thị Minh Khuê đă thực sự sợ hăi. Chị nói với tôi rằng nếu có mệnh hệ ǵ th́ làm sao mà quay về được. Đúng thế, không thể quay về được.

Chiếc Boing của hăng Hàng không Nhật Bản cứ nâng dần độ cao. Chưa bao giờ máy bay lại tăng độ cao như thế. Và trên độ cao ấy, người ta không c̣n nghe thấy ǵ nữa. Đôi tai ù dần đi và cuối cùng không c̣n nghe thấy ǵ nữa. Không nghe thấy ǵ nhưng không phải kiểu không nghe được của người điếc. Đôi tai vẫn cảm thấy nhẹ. Nhưng tuyệt nhiên không c̣n một âm thanh nào nữa. Tất cả tĩnh lặng và mênh mang. Mọi người vẫn gọi hỏi nhau, các tiếp viên vẫn đi lại, nhưng tất cả chỉ như những cái bóng in trên tường.

Hồi tôi c̣n bé. Một đêm học bài và ngủ gục xuống bàn. Khi tỉnh dậy bỗng thấy một cái bóng người in trên tường. Tôi chết đứng v́ kinh hăi. Cả tôi và cái bóng kia đều bất động. Khi tôi biết đó là cái bóng của ḿnh th́ tôi hết sợ hăi. Nhưng tôi vẫn đứng im lặng rất lâu nh́n cái bóng và cứ tự hỏi đó có phải là ḿnh không. Bây giờ th́ có thể biết đó vừa là ḿnh vừa không phải là ḿnh.

Tôi tin rằng cái bóng của chúng ta luôn luôn im lặng nhưng không phải không có cảm xúc ǵ. Cái bóng vẫn sống như chúng ta đang sống và vẫn tư duy như chúng ta tư duy, nhưng tư duy thế nào th́ chúng ta không bao giờ biết được. Tôi nghĩ rằng; cái bóng của chúng ta không bao giờ mất đi. Khi chúng ta không nh́n thấy nó là lúc nó tồn tại trên một bức tường khác. Có thể đó là một bức tường thời gian.

Máy bay vẫn lên cao. Tôi không thể nào nh́n thấy trái đất nữa. Những đám mây cũng không c̣n. Bao quanh tôi là một ánh sáng kỳ lạ. Một thứ ánh sáng không phải của mặt trời. Một thứ ánh sáng mà không một vật cản nào tạo ra được cái bóng của nó. Nó sáng từ đâu ? Lúc đầu tôi nghĩ nó sáng từ bên trong chúng ta sáng ra. Những không phải thế. Sáng từ bên trong ra hay từ ngoài vào cũng vậy. Nghĩa là nó vẫn phải chấp nhận một qui luật: nơi xuất phát và nơi đến. Nó cũng không sáng theo một ṿng tṛn bất tận. Nó sáng bởi tất cả mọi vật đều sáng. Nghĩa là mọi vật đều trở thành ánh sáng.

Thứ ánh sáng ấy loại trừ mọi âm thanh phát theo h́nh sóng. Mặc dù mọi vật đều cất giọng và đều nghe thấy vật đối diện. Khi hiểu ra điều ấy cũng là lúc tôi nhận ra chiếc máy bay cùng chúng tôi đă sang một thế giới khác. Nhưng thế giới nơi chúng tôi đang bay không phải xác lập sự cách biệt thế giới có ngôi nhà của tôi bằng cái chết. Hoặc có thể chúng tôi không nhận biết được đường biên giới ấy. Đường biên giới ấy là điểm không thời gian và không gian.

Làng Chùa bé bỏng của tôi lúc ấy hiện lên. Nhưng trong thế giới này, tôi hoàn toàn không có cảm giác ǵ của thương nhớ, khổ đau mặc dù tôi không hề đánh mất một chút nào của kư ức. Quá khứ lúc đó giống như những ngón tay tôi đang nối liền với bàn tay. Và bàn tay nối liền với cơ thể tôi. Cơ thể tôi là một khối thống nhất. Rồi chỉ ít phút sau, tôi mất đi hoàn toàn cảm giác đang ngồi trong một khối vật chất là chiếc máy bay. Mặc dù, cái ghế vẫn đấy, hành khách bên cạnh vẫn đấy. Cái cánh máy bay nh́n qua cửa sổ máy bay vẫn đấy. Chúng tôi đă ở quá xa trái đất.

Có lẽ chúng tôi không bao giờ trở về được nữa. Nhưng trở về để làm ǵ khi mà nơi trở về lại ở ngay trong chúng tôi. Hai không gian này không phải là xếp chồng lên nhau. Không phải lồng vào nhau. Nó đang ở trong một không gian khác ; cái này chứa đựng cái kia và ngược lại. Sự chứa đựng ấy tưởng như hoán vị không ngừng nhưng thực ra nó chẳng hề như vậy. Tôi chỉ cảm nhận được khoảng khắc ấy chứ không nh́n thấy được. Không ai và không cái ǵ có thể nh́n thấy được.

Và chính ở nơi ấy, tôi thấy có một ai đó nh́n ḿnh và mỉm cười với ḿnh. Cái nh́n không phải từ phía trước, không phải từ phía sau, không từ bên phải, không từ bên trái, cũng không phải ở trên cao, mà ở đâu đấy giống như trong đôi mắt kia tôi không hề hiển diện nhưng lại được nh́n thấu. Và nụ cười cũng vậy. Và trong thế giới ấy, tất cả những bộ phận trên cơ thể con người mà đă từng đầy đoạ chính con người từ từ biến mất.

Đầu tiên là những cái lưỡi. Những cái lưỡi biến mất và ngôn ngữ con người ở đó cất lên giống như những tia nắng đầu tiên của ban mai ùa lên trái đất. Một thứ ngôn ngữ thông tuệ và ngân vang. Cảm giác như sau mỗi lời thốt ra là nắng sớm ngập tràn và hoa nở rực rỡ. Rồi những cái răng biến mất. Những cái răng biến mất trong ṿm miệng chúng tôi tưởng như chưa bao giờ chúng tôi phải mang trong miệng ḿnh những cái răng ấy.

Sự mệt mỏi và đau đớn trong chuyển động của những hàm răng không c̣n. Lúc ấy, ánh sáng tràn qua miệng chúng tôi giống như ánh sáng tuôn chảy lộng lẫy qua các ô cửa thánh đường. Và dạ dày biến mất. Đấy là hành trang nặng nhọc và đau khổ nhất mà chúng ta từng phải mang theo từ lúc sinh ra

diepanh - June 25, 2007 09:30 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (Chương III)






Chương Ba

Chuyến bay của tôi từ Chicago về Boston bị lỡ. Tôi đến sân bay Boston chậm ba tiếng đồng hồ. Khi tôi từ pḥng đợi bước ra, tôi thấy bạn tôi, Kevin Bowen và cô con gái ông, Lily, đang đứng đợi tôi.

Hầu như lần nào tôi đến Boston, Kevin cũng lái xe ra đón tôi. Lần này thật đặc biệt là có cả cô con gái của ông. Tôi nhớ năm 1993, khi chúng tôi đến Boston th́ Lily vừa sinh được mấy tháng. Một ngày chủ nhật, gia đ́nh Kevin đưa chúng tôi ra cảng Boston chơi. Cô bé Lily khóc măi. Vợ chồng Kevin không làm sao dỗ cô bé nín được. Và ngay lúc đó, nhà thơ già cùng đi với tôi đón cô bé bế vào ḷng và ông quay mặt về phía biển xa rồi ông hát ru cô bé. Ông hát một bài hát ru mà những bà mẹ Việt Nam từ bao đời nay đă hát để ru con ḿnh. Lúc ấy, nh́n ông thật cô đơn và thật đẹp.

Chỉ sau đó ít phút, như có pháp thuật, ông đă làm cho cô bé Mỹ nín khóc và từ từ ngủ trong ṿng tay của ông, ṿng tay của một người xa lạ. Người mà trước đó chừng hai mươi năm đă một sống một chết với cha cô ở chiến trường Việt Nam. Tôi nghĩ sau này lớn lên đến cái tuổi cho cô biết suy ngẫm và biết buồn th́ câu chuyện ấy chắc sẽ cho cô nhiều cảm xúc và ư nghĩa. Câu chuyện ấy sẽ nói cho cô một điều ǵ đó thật b́nh dị mà cũng thật lớn lao. Sau mấy ngày ở nhà cô trong chuyến đi này, tôi đă kể cho cô bé mười tuổi câu chuyện đó như tôi đă kể một câu chuyện nào đó cho con gái tôi nghe. Lily ngồi nghe và mỉm cười. Rồi cô nói cô c̣n bé quá nên chẳng biết ǵ.

Chiều ấy bên cảng Boston là một chiều đầy gió. Một người đàn ông xa lạ bế một cô bé mấy tháng tuổi xa lạ và hát ru cho cô bé ấy ngủ luôn luôn hiện lên trong tâm trí tôi một h́nh ảnh đầy ư nghĩa và xúc động. Lúc ấy, cuộc sống đă mượn nhà thơ kia và cô bé Lily để nói với thế gian một điều đầy ư nghĩa. Hành động lúc đó của nhà thơ, tôi tin, chỉ là một hành động vô thức. Nó không phải hành động có một ư thức rơ rệt nào, ngay cả một hành động đầy tính mục đích của một nhà chính trị. Đấy là hành động bản năng của con người được thức dậy trong hoàn cảnh ấy. Nó không cho phép người ta thờ ơ trước tiếng khóc nức nở như không thể dứt của một đứa trẻ. Chúng ta không thể cầm ḷng dù tiếng khóc ấy đôi khi là tiếng khóc sinh lư của một đứa bé hai tháng tuổi.

Nhưng khoảng khắc ấy quá ít trong đời sống chúng ta. Nó như cái đẹp bất chợt hiện ra. Nó xoá đi mọi ranh giới của thù hận và cảnh giác. Có thể nhà thơ già đó chẳng c̣n lúc nào nhớ lại buổi chiều ấy. Tôi tin rằng, nếu ở giữa thủ đô Hà Nội, trước các quan chức và công chức khác ông không bao giờ đủ bản lĩnh để làm cái điều giản dị và đẹp đẽ kia. Ông sẽ sợ người khác cho ông là một kẻ phi chính trị. Và nỗi sợ hăi ấy của ông nếu có cũng hoàn toàn dễ hiểu.

Ôi, một đứa trẻ khóc măi bên bờ biển trong một chiều đầy gió lạnh chẳng lẽ không làm động ḷng chúng ta hay sao ? Dù nay mai nó là người Mỹ, là nước Mỹ, nó có thể trở thành tổng thống Mỹ và tiến hành một cuộc chiến tranh với h́nh thức nào đó với dân tộc chúng ta, nhưng bây giờ nó bé bỏng nhường kia, trong sáng nhường kia, yếu đuối nhường kia, sợ hăi nhường kia. Tiếng khóc của nó không một chút ǵ khác với tiếng khóc của con ta. Tôi đă kể câu chuyện này cho cô bé. Nhưng Lily chưa đủ lớn để xúc động và t́m thấy ư nghĩa của buổi chiều ấy. Nhưng buổi chiều ấy thi thoảng lại hiện lên trong tâm trí tôi. Nó giản dị nhưng thật diệu kỳ. Buổi chiều ấy như một h́nh ảnh chứa đựng chân dung nhân tính của thế gian.

Năm 1997, tôi trở lại Mỹ lần thứ ba, Lily đă năm tuổi. Tôi t́m cách nói chuyện với cô bé nhưng cô luôn luôn tránh mặt. Mỗi lần tôi đưa máy ảnh lên chụp cô th́ cô lại quay đi hoặc nấp sau lưng mẹ. Và bây giờ, cô đă mười tuổi. Cô lớn một cách tôi không thể h́nh dung nổi. Đôi mắt xanh da trời trong sáng, mái tóc vàng để xoă. Cô bước đến mỉm cười chào tôi như một thiếu nữ thực thụ.

Cách đây hai năm, Kevin viết thư cho tôi nói ông vừa làm sinh nhật lần thứ tám cho Lily và ông không ngờ cô bé đă lớn lên nhanh như vậy. Và bây giờ đến lượt tôi không thể h́nh dung thiếu nữ đứng trước tôi là cô bé hai tháng tuổi trên cảng Boston mười năm về trước, là cô bé năm tuổi thường nấp sau cửa nh́n tôi năm năm về trước. Thời gian thật kỳ diệu. Thời gian làm cho một cô bé hai tháng tuổi với những sợi tóc lơ thơ và hay khóc đă biến thành một thiếu nữ mười tuổi xinh đẹp và trong sáng đang đứng trước tôi. Nếu năm năm nữa tôi trở lại Boston, cô sẽ mười lăm tuổi, lúc ấy cảm giác của tôi về cô sẽ ra sao.

Nhưng thời gian cũng thật ngiệt ngă. Nó làm tôi từ một chàng trai tóc dày, ria mép rậm trở thành một người đàn ông tóc rụng, ria mép bạc và thường thức khuya để nghe tiếng chuông gió trên ban công hay tiếng mèo gào trên mái nhà hàng xóm. Thời gian đôi lúc tôi nghĩ giống như sự nở của hoa quỳnh. Nó làm cho mọi đời sống đi đến đỉnh điểm của cái đẹp và cũng làm cho tất cả một lúc nào đó rơi vào tận cùng của sự tàn lụi.

Mỗi một ngày, tôi nghe được thời gian đang từ từ ra đi khỏi đời sống của tôi. Nhưng trong sự ra đi ấy, nó luôn luôn để lại trên đường đi của nó ánh sáng của những vẻ đẹp kỳ diệu. Thời gian đă ban phước cho tất cả mỗi một chúng ta quá nhiều. Chúng ta không thể cản được thời gian. Nhưng chúng ta có thể đồng hành cùng thời gian. Và khi chúng ta đồng hành được cùng với thời gian th́ nghĩa là chúng ta tồn tại măi măi cùng nó.

Đêm đầu tiên ở Boston, tôi ăn bữa tối cùng gia đ́nh Kevin, và tôi nhớ ngôi nhà của ḿnh vô hạn. Tôi nhớ con gái tôi với một nỗi nhớ riêng biệt không bao giờ có đối với bất cứ ai. Buổi sáng trước khi tôi ra sân bay, tôi vẫn ngồi trước màn h́nh computer để viết một tiểu phẩm nhỏ cho trường con gái tôi học. Trước đó hai ngày, con gái tôi đến trước tôi và hỏi: “Con muốn nhờ bố một việc có được không ?”. “ Bố sẵn sàng”, tôi nói. Và con gái tôi nhờ tôi viết một tiểu phẩm về bảo vệ môi trường cho trường con gái tôi đang học. Tôi nghĩ măi mà không biết sẽ viết như thế nào.

Cuối cùng tôi đă viết về những cái cây trong cuộc dời bỏ mặt đất ra đi. Những cái cây ra đi như một thông điệp gửi lại con người về sự hung bạo của họ. Những đứa trẻ đă khóc măi về sự ra đi của những cái cây và bầy chim. Mặt đất trở nên hoang vu và câm lặng. Nhưng rồi một đứa trẻ đă phát hiện ra nó có một cái hạt cây giấu trong cặp sách. Cái hạt cây đẹp như một viên ngọc. Và những đứa trẻ quyết định gieo cái hạt cây ấy xuống mặt đất của thế gian.

Đêm qua tôi ngồi nói chuyện với Kevin. Chúng tôi nói chuyện về những đứa trẻ. Có bao nhiêu phần trăm trong những đứa trẻ trong sáng và đáng yêu đang lớn lên quanh chúng ta sẽ trở thành những kẻ giết người có tổ chức và được nhân danh v́ hoà b́nh hay công lư ? Có bao đứa sẽ trở thành những người bệnh tật, đói khát và tuyệt vọng ? Có bao nhiêu đứa sẽ trở thành thi sỹ và bao nhiêu đứa sẽ trở thành những tên độc tài có thể huỷ hoại tinh thần của cả một dân tộc trong nhiều thế hệ ? Sau cuộc nói chuyện ấy, tôi nằm và nghĩ măi về các con tôi, về những đứa trẻ đang lớn lên trên xứ sở chúng ta.

Những đứa trẻ ở xứ sở chúng ta đang ngày một mất đi tuổi thơ trong chính thời gian ấu thơ của chúng. Chúng học ǵ ở trường. Tôi cảm thấy chúng là những rôbốt mỗi ngày đến trường để nạp thêm chương tŕnh mới được sọan thảo vào trong ổ cứng. Và những cuộc thi cử giống như chúng ta gơ lệnh bằng con chuột để kiểm tra sự nạp chương tŕnh của chúng ta mà thôi. Và chúng ta đang thoả măn. Một sự thoả măn đầy tội lỗi.

Trong một lần nói chuyện với các giáo viên dạy văn giỏi toàn quốc do trường Đại học văn hoá tổ chức. Tôi có nói với các giáo viên dạy văn rằng ngay chính tác phẩm bất hủ nhất của văn chương cổ điển Việt Nam là Truyện Kiều th́ khi chúng ta đi học, chúng ta cũng không được học những phần nhân văn nhất, lộng lẫy nhất của tác phẩm mà chúng ta chủ yếu học về ḷng hận thù.

Các giáo viên đă đồng ư với ư kiến của tôi. Chúng ta đă quên việc quan trọng nhất của một nền giáo dục là xây dựng nền mỹ học trong mỗi học sinh. Bởi khi con người có khả năng nhận biết cái đẹp th́ họ biết lựa chọn hành động cho cái đẹp. Khát vọng cuối cùng của chúng ta về con người là vậy. Những sai lầm của giáo dục chúng ta không phải do những cá nhân giáo viên. Những sai lầm ấy thuộc về một hệ thống khác.

Có nhiều lúc con gái tôi nhờ tôi giảng cho cháu một bài thơ trong sách giáo khoa. Tôi hoàn toàn hoang mang. Bởi tôi không biết sẽ phải nói như thế nào với con gái tôi. Tôi không thể nói đó là một bài thơ dưới mức trung b́nh, một bài thơ nhạt nhẽo, càng không thể nói đó là một bài thơ giả dối. Con gái tôi c̣n nhỏ, cháu sẽ không thể chịu đựng được điều ấy. Vậy th́ tôi phải làm ǵ ?

Tôi nhớ khi con gái tôi lên bốn tuổi. Có một lần cháu đă không nghe lời tôi. Cháu đă ném con búp bê tôi mua cho cháu xuống gầm giường và nói: không cần. Tôi không nói ǵ. Buổi tối hôm đó tôi đến bên con gái tôi và kể một câu chuyện:

Có một người cha đi vào rừng. Một con hổ hung dữ nhảy ra chặn đường người cha và gầm lên:
- Ta sẽ ăn thịt người. Muốn sống, ngươi hăy quay trở lại.
- Dù chết ta cũng không bao giờ quay lại - Người cha nói – Ta phải vào rừng để ngắt bông hoa đẹp nhất rừng mang về cho con gái ta.
- Người không sợ chết ư ? Hổ hỏi.
- Không – Người cha mỉm cười nói.
- V́ sao người lại không sợ chết ? Hổ lại gầm lên.
- V́ ta yêu con gái ta – Người cha nói – V́ niềm vui của con gái ta mà ta không sợ chết.

Rồi người cha lại đi ra biển. Một con cá mập hung dữ bơi đến và nói:
- Ta sẽ nuốt ngươi vào bụng ta. Nếu ngươi biết sợ th́ hăy mau mau quay lại bờ.
- Ta sẽ không bao giờ quay lại – Người ta nói – Ta phải lặn xuống nơi đáy biển sâu nhất để mang về cho con gái ta viên ngọc trai lớn nhất và đẹp nhất của biển cả.
- Người quả là một kẻ không biết sợ chết - Cá mập nói và nhe hai hàm răng nhọn hoắt – Cái ǵ làm cho ngươi không sợ hàm răng nhọn sắc kinh khủng của ta.
- T́nh yêu của ta với con gái ta làm cho ta không sợ chết – Người cha hănh diện nói – V́ con gái ta mà ta sẵn sàng chết.

Nói xong, người cha cười vang. Tiếng cười của người cha làm cho con cá mập sợ hăi và biến mất.

Khi tôi kể câu chuyện này trong buổi tối ấy, con gái tôi nằm trên giường im lặng lắng nghe. Rồi con gái tôi từ từ úp mặt vào gối. Khi tôi kể xong, con gái tôi vẫn nằm như vậy. Tôi nghĩ con tôi đă ngủ. Tôi khẽ khàng xoay người con tôi lại. Và tôi nhận thấy trên giương mặt tơ non của cô bé bốn tuổi đầm đ́a nước mắt từ khi nào.

Vâng, tất cả chỉ giản dị như vậy. Câu chuyện chỉ có thế. Năm nay con gái tôi đă mười bốn tuổi. Cháu có thể chẳng c̣n nhớ câu chuyện xưa tôi kể cho cháu nghe. Nhưng một buổi tối của một ngày ấu thơ cô bé bốn tuổi ấy đă nức nở. Cô bé ấy khóc không phải v́ sợ hăi, không phải v́ cô bé ấy thương người cha của ḿnh, không phải v́ cô bé ấy nhận ra khuyết điểm của ḿnh. Cô bé khóc v́ một điều ǵ đó lớn lao hơn đă xẩy ra trong tâm hồn cô dù cô bé ấy chẳng thể nhận ra. Bây giờ con tôi chẳng c̣n nhớ câu chuyện ấy giống như muôn vàn bài học đạo đức vụng về chúng ta vẫn dạy cho những đứa trẻ trong những tháng năm qua, nhưng buổi tối ấy với một điều ǵ đấy mà tôi cũng chưa kịp gọi tên đă nẩy mầm trong tâm hồn một đứa trẻ. Tất cả bắt đầu như vậy và đơn giản chỉ là như vậy.

-----------------

C̣n nữa

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều



diepanh - June 25, 2007 09:31 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (Chương IV)


Chương Bốn

Đêm qua tôi chợt tỉnh giấc. Ngay lúc đó tôi nhận ra căn pḥng tôi ở tràn ngập ánh trăng. Tôi ngồi dậy đến bên của sổ. Đêm nay có lẽ sắp rằm. Trăng tṛn quá và trong quá. Đây là lần đâu tiên tôi nh́n trăng trên bầu trời từ một xứ sở xa lạ. Vầng trăng có ǵ khác khi tôi nh́n từ nơi này ?

Không có ǵ khác cả. Chỉ có nỗi nhớ cố hương từ nơi này trong một đêm trăng im ắng. Và lúc đó, tôi chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ Việt Phương: Trăng Trung Quốc tṛn hơn trăng nước Mỹ.

Ôi, thật đau đớn. Nhà thơ đă nói đúng nỗi đau đớn ấy của chúng ta. Tại sao chúng ta lại có những năm tháng như thế? Tại sao? Dù có trả lời được th́ tôi vẫn cứ phải hỏi tại sao? tại sao? Vầng trăng, một biểu tượng của cái đẹp. Cái đẹp không thuộc quyền sở hữu của một quốc gia nào, của một quyền lực nào. Khi một quyền lực nào đó định chiếm hữu cái đẹp th́ cái đẹp biến mất. Cái đẹp ấy luôn luôn ở trên mọi quyền lực, toả sáng chúng ta, ngự trị chúng ta và cứu rỗi chúng ta.

Tôi ngắm trăng khi đang ở trên nước Mỹ. Và những người thân của tôi cũng đang ngắm trăng từ mảnh đất cố hương tôi. Chúng tôi cùng nhận ra vẻ đẹp ấy và cùng chiêm ngưỡng. Tại sao chúng ta lại có những tháng năm như thế. Và tại sao chúng ta lại không nói như thế về những tháng năm tương tự của chúng ta.

Sau chuyến đi Mỹ đầu tiên trở về, tôi về quê đúng dịp rằm trung thu, bác gái tôi, một người nông dân hơn bảy mươi tuổi, gần như không biết chữ, hỏi :

- Mỹ có rằm trung thu không hở cháu ?
- Không có bác ạ. Nhưng họ cũng có trăng.
- Trăng của họ thế nào ?
- Cả thế giới này chỉ có một vầng trăng thôi bác ạ.
- Trăng đang ở giữa làng ḿnh, xa thế mà họ cũng nh́n thấy à ?
- Khi trăng đang ở trên đầu ḿnh th́ nhiều nơi khác cũng thấy trăng trên đầu họ, bác ạ.
- Lạ nhỉ !

Tôi chỉ nói đến đó với bác tôi thôi. Bởi lúc đó, tôi nhận thấy gương mặt bác tôi vẻ tư lự. Bác tôi đă đang nghĩ tới một điều ǵ đó. Câu trả lời của tôi như vậy đă hoàn thành.

Tôi có viết một chuyện ngắn có tên: Chạy Trốn Khỏi Vầng Trăng. Chuyện kể về một người đàn bà goá chồng bởi chiến tranh. Chị cố trốn chạy khỏi t́nh yêu của một người đàn ông dành cho chị. Nhưng đêm đêm, vầng trăng lại mọc trên đỉnh đồi trước nhà chị. Trăng đẹp quá và chị không chịu nổi sự cô đơn và một điều ǵ đó thức dậy trong ḷng chị. Chị không thể thờ ơ trước những điều kỳ diệu trong đời sống.

Chị lao theo tiếng gọi của t́nh yêu. Nhưng những lời thị phi và cái phẩm hạnh phong kiến như đám mây đen trong khoảng khắc nào đó lại che khuất vầng trăng trong ḷng chị. Nhưng trăng lại hiện ra, lại toả sáng lộng lẫy, và chị lại lao ra khỏi nhà, vừa chạy chị vừa khóc trong hạnh phúc, trong đau đớn dằn vặt. Chị muốn có hạnh phúc, nhưng chị sợ hăi.

Chị nghĩ: chỉ có một con đường là chị chạy trốn khỏi vầng trăng. Nghĩa là chị phải chạy trốn khỏi cái đẹp. Chị bỏ nhà vào sống trong hang núi tối tăm. Nhưng cái đẹp đă ở trong tâm hồn chị, vầng trăng luôn luôn ngự trị trong tâm hồn chị. Bởi thế, với những người như chị, càng ở trong tăm tối nó càng toả sáng rực rỡ.

Mùa hè năm ngoái, trong một lần về quê, đêm ấy tôi cùng cha tôi ngồi ngoài sân rất khuya. Làng quê trong đêm trăng yên tĩnh trở nên huyền bí và mênh mang vô tận. Trăng vằng vặc trên sân nhà soi rơ cả những con kiến lang thang trong đêm. Thi thoảng, những ngọn gió mùa hạ từ cánh đồng thổi về làm xôn xao những ṿm lá trong vườn. Cả ṿm cây lấp lánh như dát vàng. Và trong những cơn gió thổi về, tôi nghe tiếng cuốc từ cánh đồng xa buồn bă.

Lâu lắm rồi tôi mới lại nghe tiếng cuốc. Có những năm tháng dài, những con cuốc không biết đi đâu. Tôi hỏi th́ cha tôi bảo người ta săn bắn chim chóc nhiều quá đến chẳng c̣n một con nào. Nhưng đêm ấy, tôi lại được nghe cuốc kêu. Tiếng cuốc kêu đều đều suốt đêm. Kêu như lời của một kẻ tri âm. Kêu như một nỗi buồn đau dằng dặc. Kêu như đang xé từng mảnh phổi của ḿnh. Kêu như những bước chân tiến dần về cái chết. Kêu như nỗi oan ức của mọi thời đại. Và kêu…

Hai cha con tôi ngồi im lặng trong đêm trăng của làng quê. Cha tôi lúc đó đă tám mươi hai tuổi. Tôi bốn mươi lăm tuổi. Cả hai người đàn ông ấy đă đủ thời gian sống để biết im lặng. Bỗng cha tôi quay về phía tôi và nói: Nếu hai anh em con có tiền th́ xây một trái nhà lên hai ba tầng, thành phố loạn lạc th́ vợ chồng con cái về làng mà ở, nếu nước lớn th́ có nơi mà chạy nước. Hai anh em cố mà làm sớm, con ạ.

Khi cha tôi vừa nói xong th́ tôi cảm thấy một luồng khí lạnh tràn qua người tôi. Cha tôi là một người nông dân, sau này tham gia cách mạng và về hưu, nhưng bản chất cha tôi vẫn là một người nông dân. Tôi chưa bao giờ nghe cha tôi nói những điều như vậy. Cha tôi không có ngôn ngữ ấy. Cái ông thường xuyên nói, nói cả đời là đạo làm người. Ông nói một cách đơn giản và cụ thể. Những ǵ ông nói từ trước tới giờ không ngoài những việc cụ thể hàng ngày và với những người cụ thể trong làng, trong họ và trong gia đ́nh.

Câu nói của cha tôi đêm ấy là một thông điệp. Ai đó từ chốn cao xanh đă mượn cha tôi, một người già tám mươi hai tuổi, để truyền đi thông điệp ấy chăng? Sẽ có một thay đổi lớn lao hay một sự bất trắc khủng khiếp trong đời sống của chúng ta chăng? Có, tôi tin là có. Con người sẽ phải chịu những hậu hoạ khủng khiếp do chính con người gây ra.

Khi cha tôi đi nằm v́ ngồi lâu ông thấy đau lưng, tôi ngồi một ḿnh giữa sân nhà giàn dụa ánh trăng. Những con kiến vẫn đi. Lúc nào những con kiến cũng vội vă. Chúng đi không ngưng nghỉ từ lúc sinh ra cho tới lúc chết. Tôi chưa bao giờ nh́n thấy lũ kiến ngủ.

Ngày c̣n bé, tôi hỏi mẹ: mẹ ơi, những con kiến không ngủ hở mẹ? Mẹ tôi không trả lời được câu hỏi của tôi. Tôi ngố im lặng trong tiếng cuốc kêu đều đều từ cánh đồng xa vọng về.

Tôi đă kể câu chuyện về cha tôi cho một số người nghe. Nhưng tôi biết chỉ một hai người trong số đó suy nghĩ về câu chuyện ấy. Những người khác nghĩ tôi lăng mạn, nghĩ tôi bị bệnh tâm thần trong một giây khắc nào đó, nghĩ tôi là kẻ tuyệt vọng và có thể là kẻ hăo huyền.

Tôi không đợi chờ ḷng tin của họ vào câu chuyện ấy. Nhưng với tôi, đó hoàn toàn là một thông điệp. Tôi đă nghe được thông điệp ấy và tôi có nghĩa vụ chuyển tiếp thông điệp ấy cho người khác. Tai hoạ sẽ giáng xuống đầu chúng ta bởi chính tội lỗi của chúng ta. Dù chúng ta vẫn ngày ngày đọc lời biện minh cho những tội lỗi ấy.

Đă một lần cha tôi nói về việc xây dựng nhà cửa. Đó là năm 1986, khi tôi đang học ở Cuba. Tôi nhận được thư cha tôi. Trong thư có đoạn : Bố vừa mới xây xong được trái bếp, để sau này bố có mất đi th́ anh em có chỗ nà đun nấu. Tôi đă rơi nước mắt khi đọc đến đoạn ấy.

Cha tôi đi thoát ly gần bốn mươi năm rồi về hưu. Ông trở về làng v́ đấy là nguyện ước của ông. Nếu ở lại thành phố ông cũng không có một nơi nào để ở. Khi về hưu, ông được tặng một chiếc tủ đựng quần áo đánh vécni vàng như bôi nghệ có lẽ đóng bằng gỗ gạo, một loại gỗ mà tôi gọi là “gỗ giả dối” v́ hầu như nó chẳng dùng được vào việc ǵ. Sau hai năm, chiếc tủ bị mọt gần hết. Cha tôi ngậm ngùi chẻ ra làm củi đun nhưng chỉ có khói mù mịt mà không có lửa.

Sau này, những người khác làm quan quá sung sướng. Những người về hưu tay trắng như cha tôi tự an ủi: ḿnh hy sinh làm cách mạng cho thế hệ sau sung sướng mà.

Đúng, thế hệ những người cách mạng như cha tôi đă mang lại ḷng tin bất diệt cho nhân dân. Tôi khó có thể t́m được những người cách mạng như thế sau thế hệ cha tôi. V́ thế khi về hưu, ông bắt tay nuôi lợn nái và giành dụm tiền nong để tám năm sau ông mới có cơ hội xây được gian bếp tạm tươm tất. Và ông hạnh phúc.

Công việc xây dựng nhà cửa của cha tôi gần hai mươi năm trước là công việc chuẩn bị cho điều kiện sinh hoạt. C̣n ư định xây dựng nhà cửa của cha tôi gần hai mươi năm sau là thông điệp về những tai hoạ của kiếp người một ngày nào đó có thể giáng xuống.

--------------------

(C̣n nữa)

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều



diepanh - June 25, 2007 09:37 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (Chương V)




Chương Năm

Kevin đă chuyển nhà từ Dorchester đến Dedham. Tôi đứng nh́n ngôi nhà mới của ông im lặng. H́nh như ông hiểu được tâm trạng tôi, ông nói: Tôi chuyển về đây để tiện việc học hành cho bọn trẻ. Hơn nữa ở đây gần trung tâm và nhiều trẻ con hàng xóm. Chúng nó cần bạn bè.

Năm 1993 và 1997, trong hai chuyến sang Mỹ tôi đều ở nhà Kevin ở Dorchester. Và ngôi nhà ấy chứa nhiều kỷ niệm của tôi. Khi Kevin bán ngôi nhà, nhà văn Y Ban hỏi ông rằng; Ông có biết rằng khi ông bán ngôi nhà ấy th́ ai buồn nhất không ?

Kevin chưa kịp trả lời th́ nhà văn Y Ban nói: Nguyễn Quang Thiều buồn nhất. Chị đă nói đúng. Tôi tiếc ngôi nhà ấy là v́ tôi nhớ khu vườn của ngôi nhà.

Những khu vườn luôn luôn mang cho tôi một cảm giác vừa tĩnh lặng vừa xôn xao, vừa xa xôi vừa gần gũi. Có lẽ tôi sinh ra và lớn lên ở nông thôn nên những khu vườn đối với tuổi thơ tôi như chính cơi thần tiên.

Những khu vườn ở nông thôn mấy chục năm trước thường mang không khí hoang dại. Những cái cây lâu năm ở góc vườn, những mảnh chum vại hay bát chén vỡ nằm ở chân bờ rào, những khóm dọc mùng gần bể nước lúc nào cũng xanh tốt và chỉ cần mắc một chiếc hoa mướp vàng vào lưỡi câu và nhử gần đó th́ chắc chắn từ bụi dọc mùng sẽ lao ra vài con nhái xanh, một vài luống ngô đầu hạ và những con chuồn chuồn quan đậu trên ngọn hoa ngô, những đám chua me đất mọc xanh ŕ và lấm tấm hoa trắng, một con rắn trườn khẽ khàng trên những lớp lá khô sạch sẽ cuối thu, một lối ṃn đầy vẻ bí ẩn của những con chuột, một tổ chim sâu treo như một chiếc chuông nhỏ trên cành bưởi, những con cóc hiền lành nhưng cũng như biết mọi chuyện và thờ ơ với mọi chuyện nấp trong một mảnh chum vỡ, đôi cánh bướm trắng chợt hiện ra ngày đầu xuân trôi bồng bềnh trên những chùm hoa cải nở muộn, những con ốc sên giấu ḿnh trong gốc chuối và đôi khi là dấu chân in trên nền đất ướt của một chú chồn hương ṃ từ bờ đầm lên đêm trước và biết bao thứ khác.

Những lần xa quê, tôi thường nhớ về khu vườn nhà ḿnh. Tôi chẳng bao giờ nguôi ngoai nổi khi vẳng nghe tiếng gà trưa từ một góc vườn vọng lại. Tiếng gà da diết và bâng khuâng vô tận. Nó làm cho làng quê trở nên u huyền. Nó làm cho ta dù đang đắng cay hay đói khát cũng tạm quên đi những điều ấy để nhớ về một ai đó, một cái ǵ đó thật thổn thức, thật thương yêu.

Có lẽ v́ lư do đó chăng mà khi tôi đến nhà Kevin, khu vườn đă hoàn toàn quyến rũ tôi. Một hàng rào gỗ chạy măi và khuất vào những bụi hồng bạch. Đă có những buổi chiều tôi cùng những đứa con của Kevin và những đứa trẻ hàng xóm đi men theo dọc bờ rào t́m những quả dâu tây chín đỏ. Nhưng thời gian kỳ diệu nhất của khu vườn là lúc hoàng hôn xuống. Tôi thường ngồi im lặng dưới ṿm lá cây anh đào trong vườn để chiêm ngưỡng bóng tối từ từ trùm xuống khu vườn.

Lúc ấy, những ngọn gió mỏng của đêm đầu hạ thổi về nhiều nhất trong ngày. Những cái cây trong vườn bắt đầu cất tiếng th́ thầm. Tiếng chuông gió bắt đầu ngân lên. Hương hoa hồng bắt đầu lan toả. Và đâu đấy có tiếng chân lặng lẽ của ai đó về muộn. Sau này tôi nhận ra đó là tiếng chân của hai người đàn bà da đen thuê pḥng ở dưới tầng hầm. Họ thường đi làm rất sớm và trở về rất muộn. Chúng tôi đă có đôi lần gặp nhau. Và chỉ chào hỏi nhau thôi chứ chưa bao giờ tṛ chuyện một câu nào.

Vào lúc ban mai khu vườn trở lên rực rỡ và tưng bừng tiếng chim. Quanh khu vườn có nhiều tổ chim và cũng rất nhiều những chuồng chim bé nhỏ bọn trẻ con treo lên đó cho chim đến ở. Nhiều siêu thị ở Mỹ bán những cái chuồng chim bằng gỗ hoặc bằng nhựa có lót sợi bông mềm. Người ta thường mua những cái chuồng chim ấy để bọn trẻ treo quanh nhà và trong vườn cho lũ chim đến ở.

Mùa hạ là mùa rực rỡ nhất ở Mỹ. Hoa nở ngập tràn mọi nơi. Tôi thường để chân trần đi lang thang trong khu vườn vào ngày nghỉ cuối tuần. Thích chỗ nào th́ ngồi xuống hoặc nằm xuống đọc sách. Nhưng tôi thường thích nằm trên cỏ, nhắm mắt lại và hít thở không khí đầy hương thơm của hoa lá trong khu vườn hoặc lắng nghe tiếng chim kêu trong như ngọc đâu đó ngay bên cạnh ḿnh.

Nước Mỹ được ưu đăi quá nhiều. Đất đai rộng lớn, khí hậu trong lành và cây cối th́ diệu kỳ muôn vẻ. Người ta nói 95% rừng của nước Mỹ chưa bị khai thác. Thảo nào mà trong một chuyến đi bằng xe hơi từ Boston đến Philadelphia dài hơn 1.000 km tôi chỉ thấy một màu xanh bất tận của rừng.

Họ được thiên nhiên ban cho cả những cái cây tuyệt đẹp. Lúc ấy tôi lại nghĩ về những cái cây trên xứ sở chúng ta. Ôi, h́nh như không chỉ mỗi người sinh ra đă có một số phận khác, mà mỗi dân tộc trên thế gian này sinh ra đă có một số phận khác nhau rồi. Tôi nói điều sau đây xin ai đọc những trang sách này đừng v́ một lư do ǵ đó mà tự ái, mà nguyền rủa tôi một kẻ không yêu cố hương ḿnh. Những cái cây trên xứ sở chúng ta khắc khổ làm sao.

Những cái cây chỉ là những cái cây thôi. Tất cả là do thiên nhiên sinh ra. Đừng gắn những cái cây này vào một ư thức chính trị nào cả. Chúng là vẻ đẹp của tạo hoá. Đừng lợi dụng chúng. Nhưng những cái cây trên xứ sở chúng ta quả thật là những cái cây khắc khổ. Mênh mông trên đất nước Việt Nam là những cây tre. Những cái cây cằn khô, vất vả và gai góc. Đừng nên lấy nó là là biểu tượng cho bản chất anh hùng và ḷng nhân ái cao cả của con người Việt Nam. Chúng ta không ai muốn là biểu tượng cho sự khắc khổ và nghèo đói. Chúng ta cũng chẳng bao giờ muốn trở thành biểu tượng của máu chảy. Chúng ta muốn là biểu tượng của thánh thiện và ánh sáng. Nhưng số phận của dân tộc ta đă sinh ra ở một nơi khắc nghiệt như vậy.

Có nhiều điều chúng ta hay nói dối. Trước kia, lúc nào chúng ta cũng nghe nói Hà Nội là thủ đô nhiều cây xanh rất thế giới. Chúng ta đă nói dối điều này. Mà v́ sao chúng ta nói dối nhau về cả những cái cây. Thủ đô của chúng ta quả thực là một trong vài thủ đô bẩn nhất, lộn xộn nhất, ít cây xanh nhất trên thế giới. Hà Nội trước kia chỉ biết trồng mỗi cây sấu. Sau này lại thấy quá nhiều xà cừ, một loài cây tôi thấy xấu nhất trong các loại cây mà chúng ta có thể trồng.

Đấy chẳng qua là sự lười nhác và phi thẩm mỹ của chúng ta mà thôi. Chúng ta lười nhác cả việc trồng một cái cây đẹp th́ tôi khó mà tin chúng ta có thể làm một việc ǵ ra hồn cho thủ đô của ḿnh. Chiến tranh đă qua quá lâu rồi. Chúng ta không thể viện lư do v́ chiến tranh nữa. Những cái cây vô cùng quan trọng trong đời sống của chúng ta. Những cái cây có khả năng cứu rỗi sự điên khùng của chúng ta.

Tôi nói điều đó có thể rất nhiều và rất nhiều người phản đối. Có những lần tôi ốm. Buổi chiều tỉnh dậy với cơn sốt đang hành hạ ḿnh. Vợ đi làm, con đi học. Tôi thèm khát lúc đó được ngồi trong khu vườn nhà Kevin giữa những cái cây. Sự xum xuê và xào xạc, sự tinh khiết và mênh mang, sự gần gũi và nồng ấm của những cái cây luôn luôn làm tôi bớt âu lo, mệt mỏi và cảm thấy hạnh phúc. Nhưng chúng ta đă không trồng những cái cây cho thành phố, chúng ta đă điên rồ lấp đi bao hồ nước. Thật không chịu nổi điều này. Chúng ta được thiên nhiên ưu đăi quá khắt khe. Và chúng ta đă không biết tận hưởng. Chúng ta tự nhốt chúng ta vào trong một sự rối loạn phi thẩm mỹ của kiến trúc. Chúng ta chỉ có con đường sám hối. Chúng ta không có quyền biện bạch cho những lỗi lầm này.

Trong những ngày đi làm từ thị xă Hà Đông ra Hà Nội trên con đường bụi bặm và ngột ngạt hơi nóng của bê tông, tôi lại nhớ đến nhiều hồ nước trong thành phố bị lấp và lấn chiếm. Chúng ta thật điên rồ. Tôi đă từng viết một bài thơ về linh hồn những hồ nước đă bị giết chết bay lơ lửng trên bầu trời thành phố đêm đêm để t́m nơi hạ cánh.

Trong khu vườn của Kevin đă in dấu chân của bao nhà văn Việt Nam. Trong khu vườn ấy có một chiếc sân nhỏ chơi bóng rổ. Nhiều nhà văn đă chơi bóng rổ trên chiếc sân này. Nguyễn Quang Sáng là một người như thế. Và Kevin đă viết một trong những bài thơ hay nhất về Việt Nam, bài thơ : Chơi bóng rổ với Việt Cộng. Bài thơ đề tặng Nguyễn Quang Sáng.

Những người lính Việt Nam sau chiến tranh đến nước Mỹ. Họ bước chân vào ngôi nhà của Kevin, một cựu binh từng tham gia trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Kevin viết không bao giờ ông tưởng tượng được được rằng: những người một thời săn t́m tiêu giệt nhau, một thời thù hận nhau tưởng không thể đội trời chung, nay lại đến với nhau. Họ đă ngồi trong khu vườn ấy những buổi chiều uống bia, hút thuốc và nói với nhau những câu chuyện lăng mạn.

Nếu cả hai thù hận nhau măi măi th́ cả hai đều không sống nổi. Và họ gọi nhau chơi bóng rổ trên chiếc sân trong vườn. Sau bao nhiêu năm chơi một cuộc chơi của máu và cái chết, họ đă chọn một cách chơi khác, cách chơi của hoà b́nh, t́nh bạn và thi ca dưới bầu trời bất tận ánh sáng. Có thể cuộc chơi ấy chỉ diễn ra trong chiếc sân bé nhỏ trên thế gian rộng lớn. Nhưng nó đă nói cho chúng ta về sự rồ dại của ḿnh trong một lúc nào đấy.

Trong khu vườn ấy, tôi chứng kiến những kẻ thù cũ đă đón nhau, ôm nhau, cười nói với nhau, rót bia, rượu cho nhau, khoác áo ấm cho nhau khi đêm lạnh, nấu ăn cho nhau, đọc thơ cho nhau nghe, tặng quà cho nhau. Tôi cũng đă chứng kiến bao cuộc chia tay xúc động của những kẻ thù cũ với nhau trong khu vườn ấy. Tại sao thế gian không là một khu vườn. Lúc này, tôi lại nhớ đến bài thơ của một nhà thơ vỹ đại, Joseph Brosky, bài Khu Vườn.

Đấy là một trong những bài thơ của ông mà tôi thích nhất. Bài thơ ấy tôi đă đọc hàng chục lần. Và lần nào cũng vậy, một cảm xúc khôn tả dâng lên. Dưới những tán cây thẫm tối của một mùa thu nước Nga xa xôi là bầy trẻ. Và trên đầu chúng là bầu trời vô tận lấp lánh những đám mây đang bay. H́nh như thế gian chỉ c̣n lại mỗi khu vườn ấy, chỉ c̣n lại mỗi trong sạch ấy, mỗi thương yêu ấy, mỗi thổn thức ấy, mỗi khát vọng ấy, và mỗi bài hát ấy.

Bầy trẻ vươn măi những bàn tay bé bỏng của chúng về phía những tán lá, về phía những vầng mây và hát. Tiếng hát ấy tôi nghe như tiếng hát của một dàn đồng ca trẻ nhỏ trong một thánh đường. Trong hầu hết những bài thơ khác của nhà thơ vĩ đại này tràn ngập một nỗi đau buồn khổng lồ. Ông luôn luôn bị cái địa ngục thế gian mà ông và đồng loại của ông đang sống đày đoạ. Cái xiềng xích của mọi tư tưởng trên thế gian này là xiềng xích nặng nhất mà con người phải đeo trên thân xác ḿnh.

Bởi vậy, những đứa trẻ kia là sự trong sáng cuối cùng và là đức tin cuối cùng mà thế gian c̣n lại. Khi đọc bài thơ ấy, tôi như nh́n thấy thế gian như nh́n thấy bài thơ hiện ra trên nền giấy trắng. Tất cả đă hoang vu, tất cả đă tự huỷ diệt, tất cả đă tắt lặng từ lâu và chỉ c̣n lại mỗi khu vườn ấy. Đấy là khát vọng của ông. Khát vọng lớn đến nỗi sự chờ đợi quá lâu một cải biến cho thế gian này đă làm cho trái tim ông tan vỡ. Ông chết khi mới ngoài năm mươi tuổi. Ông chết trong tuyệt vọng về thế gian. Tôi không biết linh hồn ông có đủ thanh thản để bay về cơi vĩnh hằng không?

Đời sống của chúng ta quá ngắn nhưng lại quá nhiều lầm lạc, quá nhiều tội lỗi và quá nhiều tham vọng. Tôi thấy điều này. Và điều này đă làm cho tôi quá mệt mỏi. Có lẽ bởi thế mà tôi t́m về với những khu vườn. Đấy là nơi thanh sạch và rộng lượng nhất, hơn cả chính ngôi nhà chúng ta đang ở.

--------------------------

(C̣n nữa)

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều



diepanh - June 25, 2007 09:42 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (Chương VI)


Cây cối ở New York cho người ta nhận thấy mùa xuân đă bắt đầu lộ ra sự lộng lẫy của nó. Hoa đă bắt đầu nở rộ và lá non đă phủ kín cành. Trong khi đó ở Boston đă đầu tháng Năm mà cây cối vẫn c̣n im lặng. Những cái cây ở Boston như vẫn c̣n ngái ngủ trong hơi lạnh c̣n lại của mùa đông. Về mặt địa lư khí hậu, New York không lạnh bằng Boston. Nhưng tôi lại mang cảm giác thành phố này luôn luôn rực nóng bởi nghiệt độ toả ra từ hàng triệu chiếc xe hơi chạy miên man không lúc nào tắt máy và bởi nghiệt độ toả ra từ thân thể của mười lăm triệu người sống ở thành phố này.

Tôi đến New York lần đầu tiên là năm 1993. Tôi nhớ ngày ấy, dù đi đâu chúng tôi cũng phải lẽo đẽo theo sau một người bạn Mỹ như trẻ con túm gấu áo người lớn giữa đám động v́ sợ lạc. Đúng thật, chỉ lỡ một bước là ta bị cuốn ch́m trong ḍng thác người đi bộ và bị biến mất ngay lập tức.

Tôi thực sự mang cảm giác không có sự hiện diện của ḿnh ở thành phố này và nguy cơ ḿnh có thể bị biến mất bất kỳ lúc nào. Bởi New York là một thành phố khổng lồ và quá xa lạ. Người Mỹ nói, New York là nơi chứa đựng tất cả những ǵ có trên thế gian: giàu có nhất, sang trọng nhất, Mafia nhất, đĩ điếm nhất, vô gia cư nhất, đa quốc tịch nhất, hănh diện nhất và cũng sợ hăi nhất.



Mùa hè năm 1993, một nữ văn sỹ Mỹ nổi tiếng, bà Susan Brownmiller, đă dẫn chúng tôi thăm quan điểm đầu tiên là phố 42. Đây là một trong những đường phố sex của nước Mỹ. Những pḥng nhảy khoả thân liên tiếp cùng với những cửa hiệu bán mọi thứ từ sách báo, băng đĩa, các dụng cụ bằng chất dẻo liên quan đến sex. Và trước những pḥng nhảy khoả thân và các cửa hiệu là những giáo sỹ đang truyền bá giáo lư, các đảng viên của nhiều đảng phái, nhiều tổ chức xă hội đang phát tờ rơi quảng cáo cho đảng phái hay tổ chức của ḿnh, các nghệ sỹ tự do say sưa chơi nhạc. Bên cạnh họ là những đôi đồng tính âu yếm nhau cứ như thế gian này chỉ có ḿnh họ mà thôi.

Trước khi đến phố 42, nữ văn sỹ Susan nói: Tôi đưa các anh đi xem những cái xấu của nước Mỹ, c̣n cái tốt, các anh tự t́m hiểu lấy.

Susan là nhà văn làm cho một kênh truyền h́nh của Mỹ trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Sau đó bà bỏ công việc này v́ theo bà truyền h́nh Mỹ đă nói dối quá nhiều về cuộc chiến tranh này. Trong cuốn sách nổi tiếng: Phản lại thiện chí của chúng ta: đàn ông ,đàn bà và sự cưỡng hiếp, bà đă viết một chương về lính Mỹ đă cưỡng hiếp các cô gái vị thành niên Việt Nam.

Sau khi đi thăm phố 42, bà nói với chúng tôi: Tôi vừa ở Việt Nam về và tôi rất buồn; Việt Nam ngày càng có nhiều gái mại dâm. Việt Nam không thể có gái mại dâm được. Tất nhiên bà và mọi người thừa hiểu rằng xă hội nào cũng có gái mại dâm. Nhưng bà yêu đất nước này v́ những lư do riêng và bà muốn chọn một nơi chốn để hy vọng. Và bà đă thất vọng.

H́nh như không có ǵ của thành phố này quen thuộc với tôi trừ những cái cây và những bao thuốc Malboro. Tôi từ thị xă Hà Đông bé bỏng của tỉnh Hà Tây đến và tôi bị thành phố này đe doạ. H́nh như ở đây không ai biết ai.

Lúc ấy, đoàn nhà văn Việt Nam ở trong một cư xá ở đường 72. Cư xá rất rộng. Buổi tối, Kevin, người đưa chúng tôi từ Boston đến New York đă trở về Boston. Ông John MacAuliff, giám đốc Tổ chức Hoà giải Đông Dương, người đón tiếp chúng tôi trong những ngày ở New York, đă về nhà. Chỉ c̣n lại mấy anh em nhà văn chúng tôi. Toà cư xá cao mười tầng, hun hút cầu thang và các lối đi. Căn pḥng chúng tôi ở rất rộng nên họ bố trí một người khách khác ở cùng. Ông này h́nh như là người Đức gốc ARập. Chúng tôi không biết ông làm ǵ. Ông đi suốt ngày và thường trở về sau mười hai giờ đêm và lục đục làm ǵ đó trong bóng tối căn pḥng.

Hai đêm đầu tiên ở trong cư xá đó quả thực là hai đêm chúng tôi như tách khỏi thế giới. Không một người quen, không điện thoại. Không có một nơi nào để có thể bấu víu khi trong đêm lỡ xẩy ra chuyện ǵ. Đến ngày thứ ba, chúng tôi t́m mọi cách để trở về Boston, một thành phố nhỏ hơn, nhiều người quen hơn và yên tĩnh hơn.

Tôi mang cảm giác muốn chạy trốn khỏi thành phố này. Không chỉ là tôi mà có cả những người Mỹ cũng mang cảm giác giống tôi. Ở Hà Nội tôi cũng nhiều lúc mang cảm giác muốn chạy trốn như thế. Nhưng là cảm giác về một thành phố quá bé nhỏ và chật hẹp. Tôi có nhiều người quen ở đó và cũng có nhiều người biết tôi.

Nhiều lần ngồi trong một quán ăn ở Hà Nội tôi lại nghe được câu chuyện của những người lạ về một người quen của ḿnh. H́nh như ở Hà Nội, ai làm ǵ, đi đâu mọi người cũng biết. Khi chúng ta ở một nơi mà ai cũng biết chúng ta giống như trong pḥng ngủ, trong buồng tắm của chúng ta luôn luôn có những đôi mắt mở rất to nh́n chúng ta và có những đôi tai lúc nào cũng nghiêng về phía chúng ta để nghe chúng ta th́ chúng ta sẽ rơi vào một cảm giác hoang mang và sợ hăi. Chính v́ thế mà người ta mang cảm giác chạy trốn.

Lần này đến New York, cảm giác hoang mang và sợ hăi mơ hồ vẫn c̣n trong tôi. Nhưng tôi đă có thể tự tin hơn để lang thang một ḿnh trong đêm dọc ngang nhiều phố. Một nhà văn Mỹ nói với tôi hăy cứ coi ḿnh là người New York đi giữa New York như một người Hà Nội đang đi giữa Hà Nội của anh ta th́ anh sẽ cảm thấy chẳng có chuyện ǵ. Ông quả là người có nhiều kinh nghiệm. Kinh nghiệm ấy giống như phép tàng h́nh.

New York là thành phố không bao giờ ngủ. H́nh như nghịp sống hối hả, sôi sùng sục của thành phố này chưa bao giờ dừng lại dù chỉ một giây. Tôi cố thử hiểu xem người dân thành phố này sống như thế nào và nghĩ những ǵ trong đầu họ. Nhương quả thực tôi chưa bao giờ tin vào sự hiểu biết của tôi về thành phố ấy. Tôi luôn luôn mang cảm giác rằng nếu tôi liều lĩnh bước chân vào một ngơ phố nào đó, một cửa hiệu hay một khu nhà nào đó ở New York, tôi sẽ bị nuốt chửng và không một ai có thể t́m thấy tôi.

Năm 1994, trong chuyến đi lần thứ hai đến Mỹ, tôi được một người bạn lái xe đưa đi thăm hai nơi : Trụ sở Hội đồng liên hợp quốc và Trung tâm thương mại thế giới. Lần này đến Mỹ, nơi tôi muốn đến thăm là Trung tâm thương mại thế giới. Hai toà nhà khổng lồ, cao chọc trời ở New York mà trong những bức ảnh về thành phố này đều hiện lên đầy sức mạnh và kiêu hănh đă biến mất. Bây giờ nơi ấy chỉ c̣n lại một khoảng trống mênh mông.

Khi đến đó, nh́n những nhôi nhà cao tầng bên cạnh nghĩ đến hai hai toà nhà khổng lồ, cao chọc trời ấy sụp đổ ngày 11 tháng 9, tôi bỗng rùng ḿnh. Khối bê tông ấy sụp xuống chắc chắn chẳng khác ǵ trời cao sập xuống. Tôi đă xem cảnh những chiếc máy bay lao vào toà tháp đôi nhiều lần. Nhưng lần nào cũng một cảm giác kinh hăi. Nhưng khi đến tận nơi này, nh́n lên những toà nhà cao tầng bên cạnh mà h́nh dung toà tháp đôi sụp đổ th́ càng khủng khiếp. Nếu khi toà tháp đôi sụp đổ mà bạn đang đứng ở đó, bạn có thể rơi vào trạng thái mất trí.

Giờ đây, một hàng rào bằng sắt bao quanh khu Toà tháp đôi với số lượng sắt thép có thể xây dựng cả thị xă Hà Đông của tôi. Người Mỹ đang bắt đầu xây dựng lại nơi này. Suốt gần hai năm nay, hàng triệu người Mỹ đă đến nơi này và viết lên bất cứ nơi nào có thể viết được quanh đó nỗi đau đớn và thương tiếc của họ đối với những người đă chết trong thảm hoạ 11 tháng 9.

Tôi đi lang thang cả buổi sáng cũng chỉ đọc được một phần nhỏ những ǵ người sống viết cho người chết. Hầu như tất cả đều cầu nguyện cho những người đă chết. Con viết gửi cha, vợ viết gửi chồng, mẹ viết gửi con, anh viết gửi em, người yêu viết gửi người yêu, bạn biết gửi bạn, cháu viết gửi ông bà.

Một ḍng chữ mà ta có thể thấy ở mọi nơi quanh khu toà tháp đôi. Đó là ḍng chữ: Xin đừng sống măi với cái ngày khủng khiếp ấy nữa, nhưng đừng bao giờ quên ngày ấy.

Có khoảng 6.000 người đă chết ở đây. Xương thịt họ bị nghiền nát cùng sắt thép và bê tông. Đây là đám tang lớn nhất mở đầu cho thế kỷ XXI. Sau gần ba mươi năm, nỗi đau đớn về cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang nguôi ngoai dần trong ḷng người Mỹ th́ họ lại phải ghánh chịu một nỗi đau khác trên chính thành phố mà họ tự hào nhất.

Có những lời nguyền rủa Osama Biladen: Biladen là con quái vật ăn thịt người ghê tởm nhất hành tinh. Và có những lời nguyền rủa tổng thống Mỹ: Ông Bush chính là nguyên nhân của tất cả những ǵ đă xẩy ra đối với nước Mỹ. Một ḍng chữ khác: Khởi đầu của sự kết thúc. Chữ kết thúc được viết rất đậm. Câu này tôi thấy có nhiều nghĩa. Có ḍng chữ bị xoá nhưng cố gắng vẫn có thể đọc được. Tôi đă đọc được một trong những ḍng chữ ấy: Đây là sự trừng phạt của thánh Ala đối với người Mỹ. Chắc chắn đây là ḍng chữ do một người Hồi giáo viết. Và ḍng chữ viết đè lên: Bọn khủng bố sẽ bị trừng phạt. Có những ḍng chữ thật non nớt. Đó là những ḍng chữ của những đứa bé: Mẹ ơi, con yêu mẹ, Chúa sẽ phù hộ cho mẹ, con nhớ mẹ lắm. Mẹ đừng chết mẹ nhé.

Ngày 11 tháng 9 đă trở thành một cơn ác mộng của nươớc Mỹ. Một người Mỹ nói: trong một đêm tỉnh giấc, tôi đă nh́n thấy bóng toà tháp đôi treo lơ lửng trên bầu trời thành phố. Có người c̣n nói nh́n thấy 6.000 người chết bay rợp bầu trời New York trong đêm. Đấy chỉ là cơn ác mộng nhưng có thể đó là sự thật.

Có những người Mỹ bị hội chứng tiếng máy bay bay qua thành phố. Một người Mỹ nói: Tôi ngước nh́n lên bầu trời phía trên những ngôi nhà cao tầng, một chiếc máy bay đang bay qua, và nỗi sợ hăi của tôi chỉ mất di khi bóng chiếc máy bay đă khuất và tôi không c̣n nghe tiếng máy bay vọng lại nữa. Tôi không phải là người Mỹ mà ngược lại là công dân của một nước mà Mỹ vẫn c̣n những thù địch nhưng ḷng tôi cảm thấy thật đau đớn. Bởi những người chết kia là những người vô tội.

Một nhà thơ Mỹ nói với tôi: Không phải chính quyền Mỹ muốn làm cho nước Mỹ giàu có thêm mà là họ muốn thống trị thế giới. Bởi thế mà người dân Mỹ và người dân ở nhiều nơi thế giới phải chịu đau đớn về tham vọng của họ. Mới đây, sau khi Mỹ tấn công Iraq, phu nhân Tổng thống Bush đă mời một số nhà thơ danh tiếng vào Nhà trắng đọc thơ. Bà muốn cho người Mỹ thấy rằng chồng bà không phải là dân của xứ sở cao bồi Mỹ mà cũng là những người yêu và trọng thị thơ ca. Nhưng buổi đọc thơ này phải giải tán vội v́ các nhà thơ lấy diễn đàn đó đọc thơ chống chiến tranh.

Cho đến bây giờ người Mỹ vẫn để tang những người đă chết ở toà tháp đôi. Tôi đi men theo bức rào quanh khu vực này và đọc những lời điếu hàng ngày vẫn được viết lên ở đó và tôi biết họ c̣n viết măi. Tôi lại chợt nhớ đến vụ cháy Trung tâm thươơng mại quốc tế ở thành phố Hồ Chí Minh. Có lẽ đấy là vụ cháy gây thiệt mạng nhiều nhất. Chúng ta không để quốc tang. Phải chăng v́ chúng ta không có phong tục ấy hay số người chết trong vụ hoả hoạn ấy quá ít? Rời New York, tôi lại lang thang đến một số bang của nước Mỹ. Và tôi mang theo câu hỏi ấy.

-----------------------------

(C̣n nữa)

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều

diepanh - June 25, 2007 09:44 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (Chương VII)



New York bán tất cả những ǵ có trên thế gian này. Một trong những sở thích của tôi là đi bộ lang thang dọc các đường phố New York đến khi nào không thể đi được th́ bắt taxi về khách sạn. Có thể nói, hầu hết tất cả các ngôi nhà mặt tiền của biết bao khu phố ở thành phố khổng lồ nhất thế giới này đều là cửa hiệu. Và trong những cửa hiệu ấy, chúng ta có thể mua được mọi thứ: từ sách thánh đến tạp chí Playboy, từ hiệu sách chỉ bán thơ đến cửa hàng bán súng, từ những tấm bưu thiếp sang trọng đến những dụng cụ t́nh dục quái đản…

Nhưng có hai thứ người ta bán để lại trong tôi hai cảm giác trái ngược nhau và đều làm cho tôi mất ngủ. Một cảm giác vùi tôi vào vực thẳm của sự kinh sợ. Đó là những cửa hiệu bán tất cả những ǵ phục vụ cho những người đồng tính. Một cảm giác che chở và đưa tôi thoát khỏi nỗi kinh sợ của vực thẳm kia. Đó là h́nh ảnh một chàng trai ngồi bán thơ của ḿnh cũng trên đường phố ấy: phố Flecker. Đấy là hai mặt của tự do ở thành phố này.

Tôi đă vào một cửa hiệu dành cho đồng tính nam và một cửa hiệu dành cho đồng tính nữ. Một Việt kiều là người quen của tôi hỏi: Ông viết những chuyện này mà không sợ trong nước nghĩ xấu về ông à ? Tôi trả lời: Không. Thực ra cho đến bây giờ tôi mới đủ ḷng tin để nói điều này. Mười hay mười lăm năm trước th́ không dám viết thật.

Thành phố Sidney của Australia có phố Kingcross nổi tiếng của chủ nghĩa t́nh dục. Người thành phố Sidney nói: Tất cả mọi người đều có quyền bước vào khu phố này. Vấn đề là khi từ khu phố đó bước ra người đó là ai và sẽ sống thế nào mới là điều quan trọng. Đời sống t́nh dục càng ngày càng thay đổi ngay cả ở những nước theo đạo phật. Việt Nam th́ sao? Xin thưa đă thay đổi quá nhiều. Chúng ta không cần nói ra điều này v́ mọi người đều biết cả.



Cửa hiệu đồng tính nữ có tên Quà Sinh Nhật. Thực ra lúc đầu tôi nh́n thấy ḍng chữ dễ thương ấy th́ bước vào chứ không hề biết trong ấy bán những ǵ. Nhưng khi vào rồi th́ mới kinh hoàng nhận ra người ta bán những ǵ trong đó. Họ bán tất cả các bộ phận sinh dục nam giới để cho những đồng tính nữ mua về ân ái cùng nhau. Ngoài ra là sách, băng h́nh, băng nhạc và tất cả những ǵ thể phục vụ cho sinh hoạt t́nh dục của đồng tính nữ. Từng đôi, từng đôi nhân t́nh đồng tính bước vào. Không hề mặc cảm, không hề e thẹn, họ cùng nhau bàn bạc và cùng nhau chọn lựa đồ dùng cho cả hai chẳng khác ǵ hai vợ chồng đi mua sắm ngày chủ nhật ở Việt Nam.

Cửa hiệu đồng tính nam cũng vậy. Những đôi đồng tính nam dắt tay nhau, ôm eo nhau đi chầm chậm. ngắm từng dăy hàng. Tạp chí đồng tính nam in h́nh các đôi nam giới khoả thân ôm ấp nhau, hôn nhau đầy “say đắm”. Tôi thấy có cả những chàng trai châu Á. Và tôi tự hỏi trong những chàng trai châu Á kia có ai là người Việt Nam? Có thể có. Việc chụp ảnh khoả thân ảnh quảng cáo cho các tạp chí là một nghề ở Mỹ. Tất nhiên nó không phải là một nghề mà nhiều người chấp nhận. Tôi chỉ có thể đứng ở đó đôi ba phút và vội bước ra ngay.

Hầu hết những người đồng tính ở Mỹ hay nhiều nước trên thế giới là do cách sống. Số người do bị bệnh từ lúc sinh ra chiếm một tỷ lệ thấp. Với những người ấy, tôi thấy thương cảm và muốn chia sẻ sự cảm thông với họ.

Năm 1991, tôi vẫn đi làm trong một thời gian dài bằng xe buưt trên tuyến đường Hà Đông – Bờ Hồ – Bát Cổ. Và trên chiếc xe buưt ấy, tôi đă gặp một người đồng tính. Đấy là một người đẹp trai, lịch sự và hiểu biết. Chúng tôi thường gặp nhau trên xe buưt và trở nên quen nhau. Thi thoảng anh lại cho tôi một bao thuốc, nói của một người thân đi công tác nước ngoài về cho. Anh thấy tôi hút thuốc và anh để phần tôi.

Rồi một hôm anh mời tôi về nhà chơi. Nhà anh ở phố Nam Đồng. Tôi đă đồng ư. Anh đưa tôi vào pḥng anh. Chúng tôi nói chuyện về âm nhạc. Tôi nhớ anh đă mở đĩa hát cho tôi nghe một bản của Beethoven. Về âm nhạc th́ anh hiểu biết quá nhiều so với tôi. Anh nh́n tôi tŕu mến. Rồi anh cầm tay tôi và nói: Ḿnh nói điều này có lẽ c̣n sớm và bất ngờ với Thiều, nhưng ḿnh yêu Thiều.

Tôi nhớ gương mặt anh lúc đó vừa đau khổ, vừa tội nghiệp, vừa lo sợ vừa chờ đợi. Thực ra tôi cũng không quá bất ngờ. Bởi khi bước vào pḥng anh tôi đă bắt đầu nhận ra nhiều sự khác thường. Tôi đă từng biết những người đồng tính trong các quán cafe và quán ăn ở Cuba những năm trước đó. Tôi lặng người một lúc lâu. Tôi không có cảm giác sợ hăi. Nhưng một cảm giác rất lạ xâm chiếm tôi: một chút của căm ghét, một chút của hoang mang, một chút của thương cảm và một chút của buồn bă.

Tôi nói với anh rằng tôi rất hiểu và thương anh, nhưng tôi không thể làm cách nào được. Rồi tôi đứng dậy chào anh và bước ra cửa. Tôi bỗng dừng lại khi nghe tiếng anh bật khóc. Ra khỏi nhà anh, tôi đi lang thang măi về đến tận bách hoá Thanh Xuân.

Và từ ngày đó, tôi không đi xe buưt nữa. Có những lần đạp xe qua phố Nam Đồng, tôi nh́n thấy anh đang đứng đợi xe. Tôi muốn dừng lại để hỏi thăm và nói với anh một điều ǵ đó. Nhưng tôi đă không đứng lại. Tôi thấy anh chẳng có tội ǵ. Anh chỉ là nạn nhân của sự nổi giận của Đấng tạo hoá mà thôi. Anh khác những kẻ đồng tính khác. Rất nhiều nghệ sỹ Việt Nam đă lao vào cái tṛ chơi đồng tính. Họ không phải là nạn nhân như anh. Phần lớn họ là những kẻ thác loạn.

Rời khỏi những cửa hiệu kinh sợ kia, tôi lại lang thang trên phố Becker. Và tôi vô cùng ngạc nhiên khi nh́n thấy một thanh niên ngồi trên vỉa hè bán thơ. Lúc đầu tôi tưởng anh là một người vô gia cư ngồi bên lề đường để xin tiền lẻ của những người qua lại như những người vô gia cư và nghèo khổ khác ở New York. Nhưng đến gần, tôi nhận thấy trước anh là một tấm biển nhỏ có viết một ḍng chữ: Poetry (Thơ). Dưới ḍng chữ Thơ là giá một bài thơ: 25 cents per one poem (hai mươi lăm xu một bài), khoảng 3.500 đồng Việt Nam.

Anh sáng tác và chép tay những bài thơ của ḿnh và đựng trong một chiếc giỏ. Tôi chào anh và ngồi xuống nh́n những bài thơ trong giỏ của anh. Một cảm giác thanh sạch dâng lên. Nó tẩy rửa tất cả những ǵ trong hai cửa hiệu đồng tính mà tôi vừa ra khỏi đó.

Tôi hỏi anh mỗi ngày bán được bao nhiêu bài thơ? Anh nói có ngày anh đă bán được 100 bài và có ngày chỉ bán được dăm bài. Có những người tưởng anh dùng cách đó để ăn xin và họ ném cho anh mấy đồng xu lẻ rồi bỏ đi. Nhưng anh không hề tự ái hay nổi giận. Với anh, mỗi người cúi xuống cầm một bài thơ của anh và ra đi là một người bạn tri kỷ dẫu anh sẽ chẳng bao giờ gặp lại người ấy nữa. Họ là bạn đọc của anh. Bạn đọc của một thi sỹ không ai biết tên tuổi. Và số phận bài thơ không thuộc về anh nữa.

Tôi đă từng tâm sự với một vài người bạn thi sỹ rằng: chúng ta đă xuất bản những tập thơ của ḿnh. Những tập thơ của chúng ta có lúc bị một số kẻ nguyền rủa, có lúc bị rơi vào im lặng. Nhưng đấy không phải là nỗi buồn của chúng ta. Chúng ta hăy sống và sáng tạo.

Hăy đọc câu thơ của Brosky: Chỉ cần khóc, chỉ cần hát và chỉ cần sống. Tất cả là vậy. Và đến một lúc nào đó, có thể khi chúng ta đă giă từ thế gian, có một cô bé hoặc một cậu bé trong đau buồn, trong tuyệt vọng vô t́nh rút cuốn sách của chúng ta trong một góc mờ tối và bụi bặm của một thư viện nhỏ, mở ra và đọc. Rồi cô bé ấy hoặc cậu bé ấy gấp cuốn sách lại và ngồi im lặng, ngước nh́n bầu trời qua ô cửa sổ. Một giọt nước mắt lấp lánh trên gương mặt đang sáng dần lên. Tất cả chỉ có thế. Sứ mệnh của chúng ta chỉ có thế. Lặng lẽ như ánh sáng.

Sau một lúc tṛ chuyện với anh, tôi mua hai bài thơ của anh. Anh đưa chiếc giỏ đựng thơ của ḿnh và bảo tôi tự chọn. Nhưng tôi không chọn. Anh mỉm cười và lấy ra hai bài thơ đưa cho tôi. Tôi mở ví lấy năm đô đưa cho anh và nói với anh không phải trả lại. Năm đô la chỉ mua được một phần tư đĩa DVD phim sex trong cửa hiệu đồng tính. Nhưng đấy là ḷng tôn trọng của tôi đối với anh. Đấy như là một lễ vật nhỏ nhoi của tôi dâng tạ thi ca.

Thi ca, hay nghệ thuật nói chung là vậy, thường bị những hưởng thụ, những tham vọng và những điên loạn của đời sống hiện đại che khuất. Nhưng nó vẫn ẩn khuất ở đâu đây thật b́nh dị trong đời sống chúng ta và bất ngờ hiện lên. Nó làm cho chúng ta, như tôi là một ví dụ, thoát khỏi những kinh sợ của đời sống quá nhiều tăm tối, tham lam, độc ác, bạo lực và vô cảm.

Trở về khách sạn, tôi mở hai bài thơ ra để đọc. Một bài có tên là Những Giấc Mơ Thức Dậy và một bài có tên Cửa Sổ. Có lẽ chỉ rất ít người ở New York biết anh làm thơ. Và hai bài thơ của anh đă vạch ra một con đường dù vô cùng mỏng manh và mơ hồ nhưng sẽ dẫn ai đó đi qua được không ít nỗi kinh sợ của đời sống hiện đại của nhiều thành phố trên thế giới như New York. Một thành phố như New York, nếu không mang trong ḿnh một tinh thần như tinh thần của thi ca th́ con người không thể nào đi qua được thành phố ấy.

Hôm sau tôi trở lại t́m anh trên đường phố ấy. Tôi không t́m được anh. Anh lại lang thang đến một khu phố nào đó và ngồi xuống vỉa hè với những bài thơ của ḿnh. Ngồi im lặng không mời chào với một tấm biển nhỏ đề một chữ Thơ.

Anh làm vậy không phải để kiếm mươi đô la một ngày. Với sức khoẻ của ḿnh, anh có thể dễ dàng kiếm một công việc nào đó ở New York với giá ít nhất 8 USA một giờ để nuôi thân. Nhưng anh đă chọn con đường của anh. Đêm đêm anh làm thơ để khi ban mai thức dậy anh lại mang những bài thơ chép trên những tờ giấy mỏng manh, khiêm nhường đến cho những ai đó. Anh giống như một nhà truyền đạo im lặng. Anh tên là Beua Jack Gilley. Và trong tâm trí tôi, anh là một thi sỹ đích thực của thành phố New York.

--------------------------

(C̣n nữa)

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều



diepanh - June 25, 2007 09:46 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (Chương VIII)


Giấc mộng thứ hai

Một đêm tháng Mười lộng lẫy. Mùa mang đă thu hoạch xong. Thôn quê thanh sạch như chưa từng như vậy. Đó là một đêm trăng kỳ lạ. Chưa bao giờ tôi thấy ḍng sông Đáy hiện lên như đêm nay. Hai bờ sông ảo huyền sương khói như chốn thiên thai. Cả ḍng sông như một ḍng vàng lấp lánh trôi và toả hương ngào ngạt.

Một đám rước lớn từ mặt đê đi xuống bến sông. Trống chiêng cùng đàn sáo rộn vang. Tất cả những người chơi trong tốp nhạc đi đầu là những người đă từng chơi nhạc trong đội bát âm của làng. Sau tốp nhạc công là tất cả người làng tôi. Cả người sống và người đă chết từ xa xưa mà tôi chưa bao giờ biết. Đêm nay, tất cả trở về đầy đủ. Tôi nhận ra tất cả mọi người đều không mặc quần áo. Thân thể họ như được dát trăng. Cả đàn ông đàn bà đều không có bộ phận sinh dục trên người.

Tôi vội nh́n thân thể tôi. Và tôi nhận thấy thân thể tôi cũng vậy. Trăng lấp lánh như nước trên da thịt mọi người. Những sợi tóc lấp lánh như những tia sáng. Tôi thấy bà nội tôi đi trong đám rước. Bà tôi vẫn nhai trầu như ngày xưa. Tôi chạy đến bên bà tôi và hỏi cả làng ra sông làm ǵ. Bà tôi cười và bảo: Ngày xưa, từ thời nào chẳng rơ, làng ḿnh có tục tắm sông sau vụ mùa bội thu và không tội lỗi. Vụ mùa năm nay làng bội thu và không có ai mắc tội lỗi ǵ nên hội tắm sông trăng lại được mở. Hồi c̣n bé, đă có lần tôi nghe nói về hội tắm sông trăng.

Nhưng tôi đă quên câu chuyện ấy từ lâu lắm rồi.

Khi đám rước xuống đến bờ sông th́ tôi nhận thấy từ dưới ḷng sông và từ phía nguồn sông chảy ra biển từ từ hiện lên những con thuyền. Mười mấy năm trước tôi đă viết một bài thơ về những con thuyền sông Đáy đi ra khỏi ḍng sông:

Biển quá cô đơn nên đă đánh lừa
Con quá khổ đau nên con dễ dăi
Để những con thuyền đi quá cả ḍng sông

Bây giờ tất cả thuyền xưa đă trở về. Những con cá cũng lũ lượt trở về. Chúng bơi thành từng luồng và sáng lấp lánh như những mảnh trăng. Người làng ùa xuống ḍng sông. Những giọt nước lung linh như những viên ngọc trong chuyện cổ tích tung lên. Ḍng sông như cũng dâng cao hơn cùng tiếng đàn tiếng sáo và chiêng trống từng bừng.

Những nhạc công ngồi bên mép nước say đắm chơi nhạc. Bầy trẻ rực rỡ té nước vào nhau và cười vang. Những người đàn bà xoă tóc trong nước. Tóc họ bồng bềnh toả sáng trên mặt sông. Những người đàn ông cười sáng loá hai hàm răng bơi lẫn vào những ḍng cá lấp lánh. Một tháng Mười như không phải của thế gian. Thóc vàng rực trên những cánh đồng và trên những sân phơi. Những ngọn gió của tháng Mười cũng như nh́n thấy được. Những ngọn gió giống như những dải lụa mỏng đến mơ hồ bồng bềnh trôi trên những cánh đồng, những ngôi nhà và dọc hai triền sông.

Những con chuột đồng lấp lánh như những giọt nước lớn trôi trên những lối ṃn ven chân đê. Ḍng sông vẫn dịu dàng chảy ra biển cả. Những người làng vừa tắm trên ḍng sông vừa hát. Tôi nhận ra những bài hát họ hát phảng phất những làm điệu chèo cổ. Có những lời bài hát tôi không hiểu nổi. Trong khi hát, các cô gái làng nâng trên tay họ những con cá chép vàng rực. Những con cá nh́n họ với đôi mắt lấp lánh. Rồi chúng trườn khỏi ṿng tay các cô gái bơi xuống ḍng nước. Chúng xoè đôi vây và cái đuôi rực rỡ lượn quanh các cô gái làng thành những ṿng tṛn theo một điệu vũ.

Những con trai từ đáy sông từ từ mở ra và thả những viên ngọc trai. Những viên ngọc trai lóng lánh từ từ nổi lên mặt sông quanh các cô gái. Tôi khoả đôi tay như một đôi vây cá bơi chầm chậm qua những những người làng. Ai ai cũng mỉm cười nh́n tôi. Tôi thấy hương thơm của nước sông toả ngào ngạt và thấm vào da thịt tôi. Trăng mỗi lúc như một xuống gần hơn. Vầng trăng h́nh như cũng mang hương thơm của mùa mang ấm áp.

Bỗng có tiếng kêu thất thanh của một cô gái giữa ḍng sông. Các nhạc công ngừng chơi nhạc. Trẻ con ngừng té nước. Những người đàn bà ngừng hát. Bầy cá ngừng bơi. Tất cả vụt trở nên im lặng. Mặt sông h́nh như chợt mờ đi. Một đám mây đen đang trôi về phía vầng trăng. Mọi người nh́n về phía cô gái vừa kêu. Và tất cả nhận ra một người đàn ông đang tiến về phía cô gái. Thân thể người đàn ông lông lá đen cứng đang mọc ra và đang mọc ra bộ phận sinh dục và tiếng gầm gừ của nó. Lông lá đang từ từ phủ kín thân thể người đàn ông. Gă đă dùng bạo lực ḥng chiếm đoạt cô gái.

Đến lúc đó, tôi nhận ra ḍng sông đang dần dần đục và sẫm tối. Những người làng tắm sông dần dần biến mất. Đầu tiên là những người già và các nhạc công. Rồi đến những người đàn bà, các cô gái và bầy trẻ. Những con thuyền từ từ ch́m xuống nước. Chỉ trong khoảng khắc tất cả đă biến mất. Ḍng sông vụt trở nên hoang vắng. Nước sông từ từ rút xuống. Rác rưởi từ đâu đó nổi lên dọc hai bờ sông. Tôi bị bùn sông chôn chặt đôi chân không thể nào rút ra được. Tôi gọi bà tôi. Nhưng bà tôi đă biến mất từ lúc nào. Tôi hoảng sợ kêu lên.






Tôi tỉnh giấc và lần ṃ bật công tắc đèn đầu giường. Tôi nh́n đồng hồ thấy đă ba giờ sáng. Tôi ngồi dậy và thở nặng nhọc.

Tôi đang ở trong căn pḥng của khách sạn có tên là Iowa House Hotel ở thành phố Cedar Rapids. Cedar Rapids là một thành phố nhỏ và yên tĩnh nhất ở Mỹ mà tôi được biết nằm trên một vùng đồi. Thành phố này có quá ít nhà cao tầng và phủ kín cây. Sau mấy ngày ở đây, tôi cứ cảm tưởng như thành phố này không bao giờ xẩy ra chuyện ǵ đáng buồn. Tôi chưa gặp một vụ tai nạn giao thông nào, chưa gặp gă say rượu chửi bới lảm nhảm nào, chưa gặp cuộc ẩu đả nào…Bên cạnh khách sạn là sông Lowa. Suốt chiều qua tôi đi lang thang dọc bờ sông Lowa. Hai bờ sông giống như một công viên. Hoa nở rực rỡ khắp nơi. Gió xuân dào dạt thổi. Từng đôi vịt trời và thiên nga đang tắm trên sông. Thi thoảng tiếng kêu của một con thiên nga cất lên như tiếng kèn đồng, dội vào mặt nước và lan rộng dọc hai bờ sông. Trong lúc lang thang dọc bờ sông Lowa, tôi lại nhớ về con sông Đáy làng ḿnh.

Tôi dời giường ngủ đến bên cửa sổ. Ngoài kia sông Iowa lấp lánh trong ánh đèn đêm. Tôi nghe tiếng gió thổi qua những ṿm lá của những cái cây bên bờ sông. Có lẽ giấc mơ của tôi sinh ra bởi nỗi nhớ con sông làng ḿnh. Những năm tháng này, tôi thường mơ thấy cố hương và cố nhân. Giấc mơ về một đêm tắm trên ḍng sông trăng có phải chính là giấc mơ về một cuộc sống thanh b́nh nơi thôn giă?

Thực ra, đă có những khoảng khắc thanh b́nh và lộng lẫy như thế nơi cố hương tôi. Những khoảng khắc như thế thật ngắn ngủi nhưng có thật. Đă có những buổi chiều tháng Mười kỳ diệu nào đấy ở làng tôi trong kư ức. Tôi lang thang trên cánh đồng sau vụ gặt. Hương lúa mới vẫn c̣n thoang thoảng trên cánh đồng. Đất đai khô sạch. Tôi đă từng nằm trên một đống rạ khô trên cánh đồng và ngủ thiếp đi cho tới lúc hoàng hôn. Những giây phút ấy, tôi chẳng có ǵ phải phiền muộn, phải lo âu, chỉ c̣n lại cảm giác thanh sạch và yên b́nh bất tận.

Đă có những đêm trăng tôi về quê nghỉ hè và ra sông tắm. Ḍng nước trong đêm trăng mát rượi chảy qua tôi làm tan đi mọi ưu phiền, mệt mỏi. Nơi cố hương tôi, con sông là h́nh ảnh kỳ vĩ nhất trong kư ức. Tôi đă sinh ra và lớn lên bên ḍng sông ấy. Bên triền sông là những g̣ đất mọc đầy những bụi hoa tầm xuân. Vào những ngày đầu xuân, khi nắng ấm hừng lên, hoa tầm xuân nở như không thể nào ḱm giữ. Con gái làng tôi rất đa t́nh. Bà tôi bảo: V́ lũ con gái từ bé đă ngắm sắc hoa tầm xuân, đă ngửi hương tầm xuân, chính thế mà lớn lên chúng đa t́nh.

Sau này đă lớn, khi nhớ đến câu nói của bà, tôi thường mỉm cười một ḿnh. Tôi không biết câu nói của bà tôi có đúng như thế không. Nhưng tôi biết rằng; khi tôi lang thang trên những g̣ sông vào mùa hoa tầm xuân nở rộ, tôi không thể cầm ḷng. Tôi muốn chạy về làng nói với bất kỳ cô gái làng nào đó rằng tôi yêu làng và yêu cô. Cảm giác ấy là có thật. Đôi khi đến tận bây giờ tôi vẫn mang cảm giác ấy.

Và ngày ấy, tôi nghe nói ở khúc sông phía dưới khúc sông làng tôi có một cô gái trẻ ra sông tắm đêm bị một gă đàn ông cưỡng hiếp và d́m chết. Nghe nói gă đàn ông này từng theo đuổi cô gái nhưng bị cô chối từ. Oan hồn cô gái trẻ vẫn luẩn quẩn ở khúc sông. Người ta nói vẫn nh́n thấy một cô gái khoả thân tắm giữa sông trong những đêm trăng đẹp. Oan hồn cô gái rủ rê những người đàn ông háo sắc và d́m chết họ. Những năm trước kia, không năm nào là không có những người đàn ông chết đuối ở khúc sông đó. Và thế là người ta không tắm ở khúc sông ấy nữa. Những người sống hai bên bờ của khúc sông ấy đă làm lễ cúng hồn cô gái và thả đồ cúng xuống sông.

Một trong những nơi sinh ra nhiều câu chuyện kỳ bí là những xóm cư dân dọc hai bờ của những ḍng sông. Hồi truyện ngắn Mùa Hoa Cải Bên Sông của tôi in ra, có người cho là tôi lấy cốt truyện của một tác giả nước ngoài nào đó và viết lại. Có lẽ họ đă dời bỏ làng quê trong tâm trí họ lâu quá rồi nên họ không c̣n nhớ ǵ về làng quê của họ nữa.

Nếu chúng ta nghe và chúng ta nhớ th́ chúng ta có cả một kho chuyện về làng quê của ḿnh. Chúng ta không có những nhà văn lang thang và lắng nghe rồi ghi chép hoặc nhớ những câu chuyện như thế để rồi sáng tạo ra một câu chuyện với tư tưởng của ḿnh. Chúng ta mất quá nhiều thời gian đi thực tế để viết về một người chăn ḅ, chăn lợn hay một giám đốc nông trường đă chăn nuôi hay sản xuất như thế nào. Văn học không bao giờ bỏ qua họ nhưng không phải viết về họ như thế.

Khi bà tôi c̣n sống, bà tôi là một kho những câu chuyện kỳ bí mà tôi chưa hề thấy trong sách bao giờ. Sau cuốn sách này, tôi sẽ bắt tay vào viết cuốn sách về một số những người đă khuất của làng tôi. Họ là ông nội tôi, là bà nội tôi, là một người thợ may lừng danh chốn Hà Thành thuở xưa hiến toàn bộ tài sản cho cách mạng trở về quê sống trong nghèo khó một cách im lặng, là một gia đ́nh Việt kiều ở Thái Lan đă trở về làng sống và chết thật kư bí chỉ c̣n lại một người, là một cô dâu thường mơ thấy người bố chồng đă chết về và nằm xuống chiếc giường của ḿnh đến khi gà gáy sáng lại lặng lẽ trở về nghiă địa, là người anh con bác tôi đă báo tử những vẫn có tin c̣n sống không c̣n chân tay và bị mù ở một trại thương binh…Ôi, đời sống ở thời nào và nơi nào cũng chứa đựng những câu chuyện lớn bi thương.

Gă đàn ông giữa đêm trăng trên trong ḍng sông kia có trong mỗi con người chúng ta. Chúng ta chỉ đi đến cái đẹp khi chúng ta giam cầm được gă bằng chính tâm hồn chúng ta. Gă không bao giờ tự rời bỏ chúng ta. Gă nằm sâu tưởng như thiếp ngủ vĩnh viễn đâu đó trong bóng tối con vương văi trong con người chúng ta. Và khi chúng ta để cho bóng tối hoàn toàn chiếm ngự chúng ta th́ gă thức dậy và trở thành một Ma Vương trong xứ sở bóng tối trong con người ta và biến ta trở thành nô lệ hung bạo của gă dù chỉ là khoảng khắc.

Trong bài thơ Đoản ca về buổi tối, tôi viết cứ khi đêm xuống th́ những linh hồn người chết và những bóng ma từ nghĩa địa trở về và mượn chúng ta để làm những ǵ mà chưa làm được khi c̣n sống. C̣n các Thiên thần từ những ngôi sao xanh bay về mượn tâm hồn trẻ thơ để trú ngụ để bảo vệ và dạy dỗ chúng. Những linh hồn thánh thiện và những bóng ma mượn thân thể, mượn gịong nói, mượn chứng minh thư, mượn phương tiện và mượn cả lư do của người sống để thực hiện khát muốn của họ. Ḷng ai nhiều ánh sáng th́ những linh hồn thánh thiện mượn, ḷng ai nhiều bóng tối th́ ma quỉ mượn. Tôi thực sự sợ hăi điều này. Bởi có thể một lúc nào đó trên đường đời dài dằng dặc với quá nhiều thử thách nghiệt ngă, quá nhiều cám dỗ, quá nhiều mệt mỏi mà quỵ xuống th́ ngay lập tức bóng tối phủ kín ḷng ḿnh và ma quỉ bước vào.

Không ai đang sống hiển hiện bằng xương bằng thịt trên thế gian này kể cả các vị Thượng sư hay Bồ tát có thể nói rằng ḷng họ sẽ không bao giờ có bóng tối dù chỉ như là một thoáng mờ lướt qua. Bởi khi chúng ta c̣n mang theo thân xác nặng nề này th́ c̣n cơ hội cho ma quỉ bước vào. V́ chính thân xác ấy là thức ăn ngon miệng nhất của bóng tối nhục dục. Chúng ta biết được điều ấy và điều ấy phải luôn luôn ngự trị trong ḷng chúng ta như chính nghịp đập trái tim th́ chúng mới có thể thoát khỏi bóng tối ấy. Thiên thần cũng từng mượn chúng ta để song hành liên tục cùng chúng ta trong một đoạn đường dài. Đó là đoạn đường từ lúc ta sinh ra cho hết thời thơ ấu.

Khi chúng ta vừa chớm chân qua thời thơ ấu th́ các Thiên thần không dắt tay chúng ta đi nữa. Chúng ta phải tự đi một ḿnh trên đoạn đường c̣n lại. Bởi Thiên thần đă dạy chúng ta biết Cái đẹp và sự Thánh thiện. Nhưng các thiên thần ngày ngày vẫn đi qua chúng ta như khách thập phương. Chúng ta chỉ được các Thiên thần ghé thăm khi tâm hồn chúng ta phải tự dọn dẹp như một ngôi nhà tràn ngập ánh sáng giống như tâm hồn của một đứa trẻ.

Chính vậy mà cuộc đời chúng ta trên thế gian này là một cuộc hành hương đau đớn nhưng kỳ vỹ. Thế gian vừa là Thiên đường vừa là Địa ngục của chúng ta mà đường đến một trong hai nơi ấy không bao giờ có một biển chỉ đường hiện lộ. Biển chỉ dường ấy chỉ hiện ra trong một nỗ lực phi thường của chúng ta. Nó không bao giờ có sẵn bằng một sự may mắn, bằng một khái niệm hay bằng một giáo lư in trên da hoặc giấy của thời văn minh công nghiệp.
--------------------------

(C̣n nữa)

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều



diepanh - June 25, 2007 09:48 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (Chương XI)

Khi tôi vừa đến thành phố Berkeley được một ngày th́ nhận được email của một người bạn - anh S. Anh viết: “Thiều ơi, tôi đang ở Pablo Alto, ông đang ở đâu cho tôi biết và đến chơi với tôi”. Hoá ra chỗ anh ở chỉ cách chỗ tôi chừng một tiếng đồng hồ chạy xe.

Tôi gọi điện cho anh. Anh hỏi địa chỉ nơi tôi ở và cho người bạn lái xe đến đón tôi. Anh vừa sang Mỹ được mấy ngày. Anh là một con người đặc biệt, một số phận đặc biệt và là một bài học đặc biệt. Tôi gặp anh mười năm trước đây ở Bangkok và trở thành bạn anh. Chúng tôi là người cùng huyện Ứng Hoà tỉnh Hà Tây. Tôi và anh mỗi người một công việc và gần như trái ngược nhau. Anh là một nhà doanh nghiệp c̣n tôi là một nhà thơ. Anh rành mạch và rơ ràng c̣n tôi ngơ ngác và mơ mộng. Tính anh thẳng thắn, có ǵ trái phải nói ngay. C̣n tôi th́ hay ư tứ có lúc thành dở hơi.

Có lẽ v́ cá tính như vậy mà có lúc anh bảo tôi: “Tôi chán ông lắm, nhiều lúc ông chơi với tôi không thực ḷng”. Thật ra là do tôi hay ngại và nhiều lúc ư tứ quá đối với những việc anh có ư giúp tôi mà tôi thấy lớn quá. Chẳng lẽ ḿnh lại xấn xổ vào. Ngay từ đầu tôi đă gọi anh là S. Tại sao vậy ? Tại v́ tôi viết như thế này anh đă không thích. Thế mà lại mang cả tên thật anh ra th́ có khi anh lại nổi khùng. Nhưng câu chuyện về anh tôi thấy cần phải viết dù chỉ là một ít ḍng.

Rồi người bạn anh lái xe đến đón tôi. Tôi kêu lên v́ ngạc nhiên. Đó không phải ai khác mà là một người quen, Tom Nova. Cách đây ba năm, anh S. gọi điện bảo tôi đến nhà có việc. Tôi đến và gặp ở nhà anh một người nước ngoài. Đó chính là Tom Nova. Tom là người Đức.

Trong chuyến bay từ Đức đến Việt Nam, Tom đă đọc truyện ngắn Thị Trấn Những Cây Bàng Cụt của tôi bằng tiếng Anh in trên tờ Heritage của Hàng Không Việt Nam. Tom nhớ truyện ngắn đó và nhớ cả bức ảnh tác giả in kèm có bộ ria mép. Tom kể lại chuyện đó với anh S. Nghe xong, anh S bảo: “Tưởng ai chứ tay này là đồng hương tôi”. Và thế là anh gọi tôi đến để tôi và Tom gặp nhau.

Tom sang Mỹ một ngày trước khi anh S. sang. Tom là một người bạn và là một lái xe tin cậy nhất của anh S. ở nước ngoài. Mỗi khi sang Mỹ hay các nước Châu Âu, anh S. lại mua vé cho Tom sang chơi với gia đ́nh anh và giúp anh một số việc. Tom có vợ là người Việt sống ở Đức. Tom là một người học hành tử tế, nhưng nghề Tom thích nhất là nghề vẽ tranh trên đường phố để bán. Nhà tôi cũng treo một bức tranh của Tom. Những bức tranh rất nhỏ nhưng thật ấn tượng. Tom là bạn của gia đ́nh anh S. đă hơn mười lăm năm nay.

Khi tôi đến anh đang nằm mê mệt trên giường ở pḥng trong. Một người cháu đỡ anh ra pḥng khách. Anh bảo: “Ra đây nằm để nói chuyện với ông Thiều”. Nghe vậy tôi thực sự xúc động. Anh vừa truyền thuốc hôm qua. Mỗi lần truyền thuốc, anh phải nằm gục trên giường nhiều ngày. Sau đó tóc anh rụng hết. Mấy tháng sau lại mọc.

Thấy tôi, anh đùa: “Nhà trắng đang chuẩn bị tiệc đón ông đấy”. Anh S. bị bệnh ung thư. Hơn mười năm trước, các bác sỹ Việt Nam đă thông báo với anh rằng: y học không c̣n cách nào để giúp đỡ anh. Nghĩa là ngày ấy cái chết đă đến cầm lấy ngón tay út của anh rồi. Lúc đó, anh nghĩ: tại sao ḿnh có thể chết được. Ḿnh đă phải gánh chịu bao nhiêu đói rét, khổ đau, bất hạnh trong suốt thời ấu thơ và những năm tháng sau này. Và ḿnh đă sống, đă lao động với toàn bộ ư trí và ước mơ để đi qua những thách thức nghiệt ngă của đời sống để làm người như hôm nay. Ḿnh không thể chết.




Và anh đă đi qua được cái chết một cách kỳ diệu. Cái ǵ đă giúp anh: sự ban phước của Thượng đế hay t́nh yêu cuộc sống mănh liệt của anh ? Tôi nghĩ cả hai. Mười năm nay là bạn của anh, tôi thấy h́nh như lúc nào anh cũng vui. H́nh như mọi thách thức, mọi khổ đau, mọi đe doạ trên cuộc đời này đă không khuất phục được anh. Anh là một người thực sự giàu có. Tôi có thể nói, anh là một trong những người giàu có nhất Việt Nam. Nhưng khi ngồi với tôi, chẳng bao giờ anh nói về sự giàu có của ḿnh.

Tôi nghĩ sự giàu có chân chính là một niềm hănh diện. Một dân tộc giàu có luôn luôn là niềm hănh diện của các công dân. Ngày tôi c̣n học ở Cuba, có chàng sinh viên Việt Nam khi được hỏi quốc tịch nước nào th́ luôn trả lời: Nhật. Thế là các cô gái Cuba nh́n chàng với đôi mắt kính trọng và không ít cô đă lăn lóc theo chàng.

Thi thoảng rảnh rỗi, tôi ghé qua nhà anh vào buổi chiều và ngồi với anh. Anh thường kể cho tôi nghe về tuổi thơ ấu đầy nước mắt của ḿnh. Khi anh lên năm tuổi, mẹ anh bế anh về quê cho ông bà nội anh để đi theo một người đàn ông khác. Anh coi như mồ côi mẹ từ thuở ấy.

Làng quê nghèo đói và buồn bă đă rót đầy nước mắt vào con người anh. Mỗi sáng tinh mơ, cậu bé S. đă xách chiếc giỏ rách lần theo các bờ ruộng để móc cua. Mười đầu ngón tay cậu bé như bị cắt nát bởi cua cắp. Bảy tuổi, cậu phải ra đồng nhổ mạ như một người lớn. Tan buổi làm, cả người cậu phủ kín bùn chỉ con đôi mắt. Đến bữa ăn, khi cậu đưa bát đến lần thứ hai th́ người cô lấy gót chân nghiền tưởng nát những ngón chân cậu. Mùi cá kho tương bên nhà hàng xóm bay sang như một cơn mơ đối với cậu. Cơn mơ bé bỏng ấy đă làm đau buốt tuổi thơ cậu.

Rồi cậu lớn lên và theo người cha, một cán bộ nhà nước hiền lành và nghèo khó, ra thành phố. Rồi cậu bé buồn bă, nghèo đói, đau khổ và cô đơn ấy đă lao động để rồi trở thành một trong những người giàu có nhất Việt Nam. Thế rồi, một điều khủng khiếp đến với anh: bệnh ung thư.

Tôi kinh ngạc thấy rằng chưa bao giờ có một nét nào của sự tuyệt vọng hiện lên trên giương mặt anh. Lúc nào anh cũng sống vui vẻ và hài hước như là cuộc đời này chẳng có ǵ làm anh phiền muộn. Anh cứ thế vui vẻ sống, vui vẻ làm việc. Và cứ thế, từng ngày, từng tháng, từng năm anh đi qua căn bệnh hiểm nghèo ấy.

Mỗi năm, thường là anh sang Mỹ hai lần để tiêm thuốc. Một lượng thuốc cực mạnh như đè bẹp anh xuống. Sau khi tiêm thuốc cả tháng trời anh vẫn choáng váng như một người say rượu. Nhưng lần nào cũng thế, chỉ tiêm thuốc xong là anh nằng nặc đ̣i về nước. Với anh, những đường phố nhỏ bụi bặm, những quán phở, quán bún riêu vỉa hè, những cái cây và những cơn mưa trên thành phố quê hương anh đă trở thành một phần sức mạnh của anh.

Nằm trên giường, anh nói trong hơi thở nặng nhọc với tôi: “Có cho tôi năm triệu đô la một tháng tôi cũng không thể sống nổi ở đây, tôi phải về nhà ông Thiều ạ”.

Anh có đủ tiền sống sang trọng trong một ngôi nhà sang trọng ở Mỹ mà không phải làm ǵ. Nhưng anh đă sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương anh với quá nhiều kư ức mà anh không bao giờ dứt áo đi xa được. Anh đă nói với con trai đầu ḷng của anh, một sinh viên của đại học Stanfford, Mỹ, rằng: “Học xong trở về nước làm việc th́ cuộc đời con c̣n có ư nghĩa, c̣n nếu ở lại th́ cuộc đời coi như hết con ạ”.

Tôi thấy anh quá khác những người giàu có khác. Anh đă làm được một điều vô cùng quan trọng mà nhiều người giàu có ở Việt Nam không làm được. Đó là việc nuôi dạy những đứa con anh. Cậu con trai 19 tuổi của anh cũng mang nỗi nhớ quê hương không kém ǵ cha cậu.

Cậu sống một ḿnh ở Mỹ với một ngôi nhà riêng, một chiếc xe hơi riêng đắt tiền, một tài khoản riêng. Nhưng cậu chỉ chăm chăm học thật nhanh để khi thi xong là lao ra sân bay về nước. Cậu tiêu tiền như con trai của một gia đ́nh nghèo khó. Cậu khác quá nhiều những cô cậu con nhà giàu khác ở Việt Nam. Cậu cũng thừa biết rằng, với tài sản cha cậu có, cậu có thể ăn chơi hết đời cũng chẳng thấm chi.

Có những lúc anh kiểm tra con ḿnh bằng cách đưa cho cậu rất nhiều tiền. Nhưng cậu vẫn tiêu tiền như thế. Mua một đôi giày mới cậu cũng email từ Mỹ về xin phép cha cậu. Tài sản của cha cậu rồi sẽ hầu hết thuộc về cậu. Nhưng cậu đă nhận ra rằng không sống, không làm việc như một mơ ước, như một sự thách thức th́ cuộc đời cậu chẳng đáng giá một xu. Và cậu cũng hiểu cái giá của mồ hôi, nước mắt trong từng đồng tiền mà cha mẹ cậu làm ra.

Cậu tâm sự với tôi: “Cháu có đủ mọi thứ, nhưng lúc nào cháu cũng muốn chạy thật nhanh về ngôi nhà của ḿnh ở Việt Nam”. H́nh ảnh một cậu con trai 19 tuổi ngồi bóp chân cho cha ḿnh trong lúc đau ốm suốt đêm làm tôi không ḱm nổi xúc động. Trong lúc đó chúng ta thực ḷng phải đau đớn thừa nhận rằng: ḷng hiếu thảo đối với cha mẹ của nhiều nam nữ thanh niên Việt Nam đang trở thành nỗi lo lớn và là nỗi đau buồn không ít cho bậc cha mẹ. Có quá nhiều những đứa con cậy bố mẹ họ nhiều tiền đă lao vào cuộc sống thác loạn vô mục đích.

Anh S. đă quá thành công trong cuộc đời ḿnh. Nhưng anh thành công hơn trong việc nuôi dạy những đứa con anh. Nếu con anh là một kẻ nghiện ngập, lang thang rượu chè, cờ bạc và thiếu ân nghĩa th́ những đồng tiền chỉ mang lại niềm vui cho anh trong một khoảng khắc nhất định mà thôi.

Con trai anh đă tâm sự với tôi: “Khi về Việt Nam, cháu không chịu nổi khi nh́n những thanh niên xe này xe nọ, quần này áo nọ, hết nhà hàng lại quán bar, hết mát-sa lại ma tuư”.

Tôi cũng từng biết những người giàu có khác ở Việt Nam, nhưng tôi thấy họ sống khác anh. Họ giống những gă trọc phú. Họ nhanh quên những người bạn nghèo. Anh chơi với Tom, một người Đức nghèo, nhưng v́ Tom chân thành và thông minh. Tôi chơi với anh cũng bởi v́ anh dân dă và thẳng thắn. Những ǵ tôi viết dở là anh nói ngay: “Sao mà bài này ông viết dở hơi thế”.

Nhà văn chúng ta thường là văn ḿnh vợ người. Nhưng tôi không bao giờ tự ái v́ anh khen chê rất chân thành. Một lời chê chân thành giá trị gấp mười triệu lần những lời khen giả dối. Nhiều lúc tôi không hiểu nổi khi thấy anh ngồi bên một quán vỉa hè ăn chân vịt như một người túng thiếu trong khi đó anh sẵn sàng bỏ tiền xây một trường mẫu giáo hàng trăm triệu đồng cho một làng miền trung anh bất chợt đi qua mà không đ̣i hỏi một ơn huệ ǵ. Trước khi rời khỏi ngôi làng đó, anh nói với những người già của làng nếu cần ǵ cho các cháu nhỏ cứ viết thư cho vợ chồng anh. Vợ chồng anh sẵn sàng giúp đỡ. Tôi chứng kiến tận mắt sự việc ấy. Và tôi không thể không suy nghĩ về việc làm của vợ chồng anh dù đó chỉ làm một trong rất nhiều việc họ đă làm.

Khi bài viết này của tôi được đăng lên, tôi biết thế nào anh cũng lại nổi cáu và bảo: “Ông làm cái ǵ thế này”. Nhưng tôi thấy tôi cần phải viết ra một phần nhỏ về anh, một số phận đặc biệt, một nghị lực đặc biệt. Và anh là một người Việt Nam chính hiệu, sinh ra từ một cái làng chiêm trũng nghèo đói, chứ không phải là “Việt kiều” như một số Việt kiều thật hỏi tôi: “Ông ấy là Việt kiều à?”.

--------------------------

(C̣n nữa)

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều


diepanh - June 25, 2007 09:49 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (Chương X)



V́ lỡ chuyến máy bay, tôi lại tha thẩn ở sân bay Chicago đợi chuyến bay sau. Ở thành phố nổi tiếng này tôi có chơi với một người nổi tiếng. Tên ông quá quen thuộc với bạn đọc Mỹ. Ông là một cựu binh, một tiểu thuyết gia. Tên ông là Larry Heineman.

Tôi gặp ông lần đầu tiên năm 1991 trong Hội thảo văn học Việt-Mỹ tại Hà Nội. Ông có một giọng nói tiếng Anh mạch lạc, khúc triết và khá dễ nghe đối với những ngươời biết chút ít tiếng Anh như tôi. Mùa hè năm 1994, tôi và nhà thơ Phạm Tiến Duật đi tàu từ Boston đến Chicago. Larry lái một chiếc xe hơi cũ kỹ ra ga đón chúng tôi.

Chiếc xe hơi đó giữa nước Mỹ giống như cái xe Honda 81 trong thời đại mà xe Dream và @ tràn ngập ở Hà Nội. Nếu chỉ nh́n chiếc xe ông đi th́ người sính h́nh thức nghĩ ông là một nhân viên vệ sinh công cộng. Có lẽ v́ ông quá nổi tiếng nên ngồi trong một chiếc xe như thế nào đối với ông chẳng quan trọng ǵ. Lại nghĩ tới nhiều nhà văn Việt Nam gặp nhau là hỏi: chưa lên xe mới à? Đôi khi tôi cứ ngờ ngờ không biết là cái xe Dream là khát vọng của nhà văn chúng ta hay là một tác phẩm bất hủ (?).

Người ta thường nói người Mỹ rất thực dụng. Nhưng ông là một người Mỹ, theo tôi, đă bước chân qua cái chủ nghĩa thực dụng. Chính v́ thế mà nhà cửa, xe cộ, quần áo…đối với ông chỉ là cái phải có trong đời sống ngập tràn kư ức, suy ngẫm và sáng tạo của ông.

Năm 1986, cuốn tiểu thuyết Câu chuyện của người lính Paco của ông ra đời gây một tiếng vang lớn trong văn đàn nước Mỹ. Cuốn sách viết về một người lính phản chiến trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Năm 1987, theo lời mời của Hội đồng giám khảo Giải thưởng sách Quốc gia Mỹ, ông lái chiếc xe cũ kỹ ấy từ Chicago lên NewYork dự lễ trao giải thưởng.

Ông mặc một chiếc quần ḅ cũ và một chiếc áo phông cùng với chiếc mũ phớt mốt cũ của những tay chơi xứ Chicago lừng danh xa xưa. Ông và người vợ quá chất phác, quá giản dị - Edie - bị ch́m đi bởi hàng trăm những người khách sang trọng và lắm lời.

H́nh như lúc đó, không ai để ư đến vợ chồng ông. Tony Morison, nhà văn Mỹ được giải Nobel năm 1992, khi đó cũng có mặt ở đây. Bà đến với niềm tin có phần kiêu ngạo chắc chắn sẽ được giải Sách quốc gia. Nhưng tên người được giải vang lên lại không phải là bà mà là Larry Heineman. Lúc này, tất cả những người khách đến dự mới nháo nhác t́m ông.

Buổi tối hôm đó trong khách sạn, Chủ tịch Hội đồng giám khảo gọi nhân viên nhà hàng khách sạn yêu cầu dọn bữa tối để mời vợ chồng ông. Lúc đó đă rất muộn, nhân viên khách sạn nói rằng có trả họ hàng ngàn đô la cho một bữa tối họ cũng không thể đáp ứng được. Nghe vậy, ông Chủ tịch chỉ vào Larry Heineman và nói: Đây là ngài Larry Heineman, người đoạt giải Sách quốc gia năm 1987, đừng hỏi ǵ thêm và hăy dọn bữa tối. Và ngay lập tức một bữa tối thịnh soạn đă được dọn ra với một chai sâm banh đắt nhất miễn phí để mời ngài nhà văn.

Tôi đă nghe câu chuyện trên do vợ ông kể lại. Và tôi thấy cái giá của một giải thưởng và cái giá của một nhà văn có tài chỉ cần thông qua những người hầu bàn. C̣n ở Việt Nam, nếu có nói vậy th́ nhân viên quảng cáo bia Tiger cũng chẳng để ư. Họ chỉ mỉm cười khi khách hàng uống nhiều bia của họ mà thôi. Giá trị lúc đó của khách hàng tỉ lệ thuận với số bia anh ta uống. Một cái bụng chứa bia giá trị hơn một cái đầu chứa những pho sách hay.

Người Việt Nam là những người yêu văn học và kính trọng các nhà văn. Nhưng những năm gần đây, các nhà văn đă dần dần đánh mất niềm tin của bạn đọc. Giải thưởng uy tín nhất của văn học Việt Nam chính là giải thưởng Hội Nhà Văn đă không c̣n giữ được vị trí của nó nữa. Người ta đă trao giải thưởng một cách nực cười. Việc trao giải thưởng Hội Nhà Văn những năm gần đây chẳng c̣n làm cho ai để ư nữa. Tất nhiên Hội Nhà Văn không có tác dụng ǵ đối với nhà văn trong việc viết một tác phẩm hay nhưng nó lại làm hại đến đời sống văn học. Nó làm cho không ít các nhà văn ngượng với bạn đọc và xă hội v́ những hoạt động phi văn chương của nó.

Đêm ấy, Larry Heineman quyết định thưởng cho ḿnh một hộp x́ gà Havana. Và chỉ một hộp duy nhất ấy cho đến bây giờ. Ông đă dày ṿ, đă đau khổ, đă sáng tạo hết ḿnh trong tám năm trời để sinh ra một sản phẩm tinh thần cho con người nhưng chỉ xin tự thưởng cho ḿnh một hộp x́ xa ba điếu.

Sau đó, chiếc xe hơi vẫn vậy, vẫn vậy quần ḅ cũ và vẫn vậy áo phông. Tôi đă ở trong ngôi nhà ông ở Chicago mười ngày. Một ngôi nhà thật đơn sơ, giản dị. Hàng ngày ông thức giấc lúc ba giờ sáng để viết. Sáu giờ ông bắt đầu pha càphê cho chúng tôi. Như một loại đồng hồ báo thức bằng mùi, tôi thức giấc bởi mùi càphê từ bếp bay lên pḥng ngủ. Rồi ông ăn sáng theo kiểu ăn sáng của những người Việt Nam: mỳ tôm hoặc miến tôi mang từ Việt Nam.

Ông động viên cậu con trai ăn bữa sáng của người Việt Nam. Tôi không thể thiếu phở hay một món tương tự và cậu ta không thể thiếu loại bánh ngọt gịn trộn sữa tươi và nước cam đóng hộp. Bởi thế tôi thấy cậu ăn bữa sáng với một lỗ lực lớn bởi cậu rất yêu và kính trọng t́nh yêu của cha ḿnh đối với xứ sở chúng ta. Rồi ông chuẩn bị bữa trưa cho cậu con trai và đưa cậu tới trường.

Những ngày tôi ở Chicago là thời gian ông đang chuyển tiểu thuyết này thành kịch bản phim theo lời mời của đại diễn Oliver Stone. Lần này gặp lại ông, tôi hỏi về bộ phim, ông nói bộ phim không thực hiện được v́ người đầu tư cho rằng phim về đề tài chiến tranh Việt Nam không c̣n ăn khách nữa.

Trước khi đến chiến trường Việt Nam, ông không hề nghĩ ḿnh trở thành nhà văn. Cha ông luôn luôn mong ước ông trở thành một bác sỹ. Suốt mùa hè sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, ông làm nghề lái xe buưt. Và trong mỗi ṿng bánh xe lăn ông luôn luôn cảm thấy máu chảy. Kư ức về cuộc chiến tranh tàn bạo ở Việt Nam luôn luôn hiện diện như một xác chết trong ngôi nhà ông. Ông không thể thực hiện ước mong của cha ḿnh là trở thành bác sỹ. Ông phải viết lại những kư ức kinh hoàng của chiến tranh mà ông đă đi qua. Và ông trở thành nhà văn. Cũng v́ những điều đó mà ông càng ngày càng gắn bó với Việt Nam.




Sau lần đến dự hội thảo văn học năm 1991, ông đă ba lần trở lại Việt Nam. Lần thứ nhất ông trở lại để viết về đường sắt Việt Nam. Ông đă cùng vợ đi tàu từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh. Ngày đó, đường sắt Việt Nam chưa được như bây giờ. Chỗ nằm, chỗ ngồi, chỗ ăn, chỗ ở trên tàu thật qua sức chịu đựng đối với một người quen sống từ bé ở một thành phố lớn quá đủ tiện nghi như Chicago. Cuốn sách đă xuất bản ở Mỹ. Ông nói với tôi cuốn sách bán rất chạy và ông được một khoản nhuận bút khá lớn.

Lần thứ hai ông đến Việt Nam với một mục đích rất quan trọng của gia đ́nh ông: đưa cậu con trai 14 tuổi đến nơi mà cha cậu từng đau khổ, từng suy ngẫm và từng yêu quí. Cậu đi chùa. Cậu nghe quan họ. Cậu xem rối nước. Cậu ăn phở. Những ngày ở Việt Nam, Larry Heineman như một ông giáo kiên tŕ dẫn dắt cậu tṛ nhỏ đi từng bước vào đời sống văn hoá của dân tộc chúng ta. Nơi mà mỗi ngày cha cậu lại t́m thấy một điều ǵ đó.

C̣n lần này ông đến Việt Nam nhiều tháng do một quĩ của chính phủ Mỹ tài trợ để làm một công việc mà ít người chúng ta nghĩ tới: sưu tầm một số truyện cổ tích, dân gian Việt Nam để viết lại và bàn luận cho người Mỹ đọc.

Trong khi một số trí thức Việt Nam bắt đầu có thái độ cười cợt một số truyện cổ tích Việt Nam th́ ông lại bắt đầu sưu tầm, t́m hiểu và nghiên cứu một cách nghiêm túc nhất. Không phải nước Mỹ không có truyện cổ tích, dân gian. Không phải ông chưa bao giờ được đọc truyện cổ tích, dân gian của các dân tộc khác trên thế giới. Tất cả chỉ bởi v́ ông muốn biết tự xa xưa người Việt Nam đă sống, đă lao động, đă đau khổ, đă yêu, đă đấu tranh và đă ước mơ như thế nào.

Với ông, chuyện Tiên Dung - Chử Đồng Tử là tuyên ngôn của t́nh yêu không chỉ của người Việt Nam. Ông hỏi v́ sao hai cha con Chử Đồng Tử lại chỉ có một chiếc khố. Tôi nói với ông đó là cách nói của người Việt về cái nghèo. Nhưng nói cái nghèo đó để làm chói sáng ḷng hiếu thảo của con người Việt Nam. Đó là khi người cha Chử Đồng Tử chết dặn con hăy giữ lấy chiếc khố để mà mặc. Nhưng v́ yêu cha mà Chử Đồng Tử không thể để cha chết mà không mảnh vải che thân. Đấy là một nét đặc sắc của văn hoá Việt. Với ḷng hiếu thảo và yêu cha như vậy, Chử Đồng Tử đă được nhận lại một t́nh yêu lớn với Tiên Dung.

Gần một nửa năm xa chốn phồn hoa Chicago và ngôi nhà nơi vợ con ông đang trú ngụ, Larry Heineman lang thang nhiều nơi ở Hà Nội và Huế để lắng nghe, ghi âm và ghi chép bất cứ người dân Việt Nam nào cất giọng th́ thầm kể về những câu truyện xa xưa nửa hiện thực nửa huyền thoại. Rồi ông trở về Chicago vẫn với ngôi nhà nhỏ đơn sơ, vẫn với quần ḅ và áo phông để ba giờ sáng ngày ngày thức dậy tṛ chuyện trên bàn viết với những người cổ xưa của xứ sở chúng ta.

Và tôi tin, sẽ có những người Việt Nam hỏi: ông ta làm thế để làm ǵ nhỉ?

Ông làm vậy bởi ông đă có những buồn vui với mảnh đất này. Ông làm vậy bởi ông đă đi qua cái chủ nghĩa thực dụng và nhận ra hàm răng nhọn sắc máu me của nó nuốt chửng quá nhiều đồng loại. Ông làm vậy chỉ để nói rằng: khi con người không c̣n cảm giác hay đánh mất khả năng đối thoại với quá khứ th́ con người không bao giờ nhận được lời hứa của tương lai.

--------------------------

(C̣n nữa)

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều


diepanh - June 25, 2007 09:52 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (Chương XI)

Khi tôi vừa đến thành phố Berkeley được một ngày th́ nhận được email của một người bạn - anh S. Anh viết: “Thiều ơi, tôi đang ở Pablo Alto, ông đang ở đâu cho tôi biết và đến chơi với tôi”. Hoá ra chỗ anh ở chỉ cách chỗ tôi chừng một tiếng đồng hồ chạy xe.

Tôi gọi điện cho anh. Anh hỏi địa chỉ nơi tôi ở và cho người bạn lái xe đến đón tôi. Anh vừa sang Mỹ được mấy ngày. Anh là một con người đặc biệt, một số phận đặc biệt và là một bài học đặc biệt. Tôi gặp anh mười năm trước đây ở Bangkok và trở thành bạn anh. Chúng tôi là người cùng huyện Ứng Hoà tỉnh Hà Tây. Tôi và anh mỗi người một công việc và gần như trái ngược nhau. Anh là một nhà doanh nghiệp c̣n tôi là một nhà thơ. Anh rành mạch và rơ ràng c̣n tôi ngơ ngác và mơ mộng. Tính anh thẳng thắn, có ǵ trái phải nói ngay. C̣n tôi th́ hay ư tứ có lúc thành dở hơi.

Có lẽ v́ cá tính như vậy mà có lúc anh bảo tôi: “Tôi chán ông lắm, nhiều lúc ông chơi với tôi không thực ḷng”. Thật ra là do tôi hay ngại và nhiều lúc ư tứ quá đối với những việc anh có ư giúp tôi mà tôi thấy lớn quá. Chẳng lẽ ḿnh lại xấn xổ vào. Ngay từ đầu tôi đă gọi anh là S. Tại sao vậy ? Tại v́ tôi viết như thế này anh đă không thích. Thế mà lại mang cả tên thật anh ra th́ có khi anh lại nổi khùng. Nhưng câu chuyện về anh tôi thấy cần phải viết dù chỉ là một ít ḍng.

Rồi người bạn anh lái xe đến đón tôi. Tôi kêu lên v́ ngạc nhiên. Đó không phải ai khác mà là một người quen, Tom Nova. Cách đây ba năm, anh S. gọi điện bảo tôi đến nhà có việc. Tôi đến và gặp ở nhà anh một người nước ngoài. Đó chính là Tom Nova. Tom là người Đức.

Trong chuyến bay từ Đức đến Việt Nam, Tom đă đọc truyện ngắn Thị Trấn Những Cây Bàng Cụt của tôi bằng tiếng Anh in trên tờ Heritage của Hàng Không Việt Nam. Tom nhớ truyện ngắn đó và nhớ cả bức ảnh tác giả in kèm có bộ ria mép. Tom kể lại chuyện đó với anh S. Nghe xong, anh S bảo: “Tưởng ai chứ tay này là đồng hương tôi”. Và thế là anh gọi tôi đến để tôi và Tom gặp nhau.

Tom sang Mỹ một ngày trước khi anh S. sang. Tom là một người bạn và là một lái xe tin cậy nhất của anh S. ở nước ngoài. Mỗi khi sang Mỹ hay các nước Châu Âu, anh S. lại mua vé cho Tom sang chơi với gia đ́nh anh và giúp anh một số việc. Tom có vợ là người Việt sống ở Đức. Tom là một người học hành tử tế, nhưng nghề Tom thích nhất là nghề vẽ tranh trên đường phố để bán. Nhà tôi cũng treo một bức tranh của Tom. Những bức tranh rất nhỏ nhưng thật ấn tượng. Tom là bạn của gia đ́nh anh S. đă hơn mười lăm năm nay.

Khi tôi đến anh đang nằm mê mệt trên giường ở pḥng trong. Một người cháu đỡ anh ra pḥng khách. Anh bảo: “Ra đây nằm để nói chuyện với ông Thiều”. Nghe vậy tôi thực sự xúc động. Anh vừa truyền thuốc hôm qua. Mỗi lần truyền thuốc, anh phải nằm gục trên giường nhiều ngày. Sau đó tóc anh rụng hết. Mấy tháng sau lại mọc.

Thấy tôi, anh đùa: “Nhà trắng đang chuẩn bị tiệc đón ông đấy”. Anh S. bị bệnh ung thư. Hơn mười năm trước, các bác sỹ Việt Nam đă thông báo với anh rằng: y học không c̣n cách nào để giúp đỡ anh. Nghĩa là ngày ấy cái chết đă đến cầm lấy ngón tay út của anh rồi. Lúc đó, anh nghĩ: tại sao ḿnh có thể chết được. Ḿnh đă phải gánh chịu bao nhiêu đói rét, khổ đau, bất hạnh trong suốt thời ấu thơ và những năm tháng sau này. Và ḿnh đă sống, đă lao động với toàn bộ ư trí và ước mơ để đi qua những thách thức nghiệt ngă của đời sống để làm người như hôm nay. Ḿnh không thể chết.





Và anh đă đi qua được cái chết một cách kỳ diệu. Cái ǵ đă giúp anh: sự ban phước của Thượng đế hay t́nh yêu cuộc sống mănh liệt của anh ? Tôi nghĩ cả hai. Mười năm nay là bạn của anh, tôi thấy h́nh như lúc nào anh cũng vui. H́nh như mọi thách thức, mọi khổ đau, mọi đe doạ trên cuộc đời này đă không khuất phục được anh. Anh là một người thực sự giàu có. Tôi có thể nói, anh là một trong những người giàu có nhất Việt Nam. Nhưng khi ngồi với tôi, chẳng bao giờ anh nói về sự giàu có của ḿnh.

Tôi nghĩ sự giàu có chân chính là một niềm hănh diện. Một dân tộc giàu có luôn luôn là niềm hănh diện của các công dân. Ngày tôi c̣n học ở Cuba, có chàng sinh viên Việt Nam khi được hỏi quốc tịch nước nào th́ luôn trả lời: Nhật. Thế là các cô gái Cuba nh́n chàng với đôi mắt kính trọng và không ít cô đă lăn lóc theo chàng.

Thi thoảng rảnh rỗi, tôi ghé qua nhà anh vào buổi chiều và ngồi với anh. Anh thường kể cho tôi nghe về tuổi thơ ấu đầy nước mắt của ḿnh. Khi anh lên năm tuổi, mẹ anh bế anh về quê cho ông bà nội anh để đi theo một người đàn ông khác. Anh coi như mồ côi mẹ từ thuở ấy.

Làng quê nghèo đói và buồn bă đă rót đầy nước mắt vào con người anh. Mỗi sáng tinh mơ, cậu bé S. đă xách chiếc giỏ rách lần theo các bờ ruộng để móc cua. Mười đầu ngón tay cậu bé như bị cắt nát bởi cua cắp. Bảy tuổi, cậu phải ra đồng nhổ mạ như một người lớn. Tan buổi làm, cả người cậu phủ kín bùn chỉ con đôi mắt. Đến bữa ăn, khi cậu đưa bát đến lần thứ hai th́ người cô lấy gót chân nghiền tưởng nát những ngón chân cậu. Mùi cá kho tương bên nhà hàng xóm bay sang như một cơn mơ đối với cậu. Cơn mơ bé bỏng ấy đă làm đau buốt tuổi thơ cậu.

Rồi cậu lớn lên và theo người cha, một cán bộ nhà nước hiền lành và nghèo khó, ra thành phố. Rồi cậu bé buồn bă, nghèo đói, đau khổ và cô đơn ấy đă lao động để rồi trở thành một trong những người giàu có nhất Việt Nam. Thế rồi, một điều khủng khiếp đến với anh: bệnh ung thư.

Tôi kinh ngạc thấy rằng chưa bao giờ có một nét nào của sự tuyệt vọng hiện lên trên giương mặt anh. Lúc nào anh cũng sống vui vẻ và hài hước như là cuộc đời này chẳng có ǵ làm anh phiền muộn. Anh cứ thế vui vẻ sống, vui vẻ làm việc. Và cứ thế, từng ngày, từng tháng, từng năm anh đi qua căn bệnh hiểm nghèo ấy.

Mỗi năm, thường là anh sang Mỹ hai lần để tiêm thuốc. Một lượng thuốc cực mạnh như đè bẹp anh xuống. Sau khi tiêm thuốc cả tháng trời anh vẫn choáng váng như một người say rượu. Nhưng lần nào cũng thế, chỉ tiêm thuốc xong là anh nằng nặc đ̣i về nước. Với anh, những đường phố nhỏ bụi bặm, những quán phở, quán bún riêu vỉa hè, những cái cây và những cơn mưa trên thành phố quê hương anh đă trở thành một phần sức mạnh của anh.

Nằm trên giường, anh nói trong hơi thở nặng nhọc với tôi: “Có cho tôi năm triệu đô la một tháng tôi cũng không thể sống nổi ở đây, tôi phải về nhà ông Thiều ạ”.

Anh có đủ tiền sống sang trọng trong một ngôi nhà sang trọng ở Mỹ mà không phải làm ǵ. Nhưng anh đă sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương anh với quá nhiều kư ức mà anh không bao giờ dứt áo đi xa được. Anh đă nói với con trai đầu ḷng của anh, một sinh viên của đại học Stanfford, Mỹ, rằng: “Học xong trở về nước làm việc th́ cuộc đời con c̣n có ư nghĩa, c̣n nếu ở lại th́ cuộc đời coi như hết con ạ”.

Tôi thấy anh quá khác những người giàu có khác. Anh đă làm được một điều vô cùng quan trọng mà nhiều người giàu có ở Việt Nam không làm được. Đó là việc nuôi dạy những đứa con anh. Cậu con trai 19 tuổi của anh cũng mang nỗi nhớ quê hương không kém ǵ cha cậu.

Cậu sống một ḿnh ở Mỹ với một ngôi nhà riêng, một chiếc xe hơi riêng đắt tiền, một tài khoản riêng. Nhưng cậu chỉ chăm chăm học thật nhanh để khi thi xong là lao ra sân bay về nước. Cậu tiêu tiền như con trai của một gia đ́nh nghèo khó. Cậu khác quá nhiều những cô cậu con nhà giàu khác ở Việt Nam. Cậu cũng thừa biết rằng, với tài sản cha cậu có, cậu có thể ăn chơi hết đời cũng chẳng thấm chi.

Có những lúc anh kiểm tra con ḿnh bằng cách đưa cho cậu rất nhiều tiền. Nhưng cậu vẫn tiêu tiền như thế. Mua một đôi giày mới cậu cũng email từ Mỹ về xin phép cha cậu. Tài sản của cha cậu rồi sẽ hầu hết thuộc về cậu. Nhưng cậu đă nhận ra rằng không sống, không làm việc như một mơ ước, như một sự thách thức th́ cuộc đời cậu chẳng đáng giá một xu. Và cậu cũng hiểu cái giá của mồ hôi, nước mắt trong từng đồng tiền mà cha mẹ cậu làm ra.

Cậu tâm sự với tôi: “Cháu có đủ mọi thứ, nhưng lúc nào cháu cũng muốn chạy thật nhanh về ngôi nhà của ḿnh ở Việt Nam”. H́nh ảnh một cậu con trai 19 tuổi ngồi bóp chân cho cha ḿnh trong lúc đau ốm suốt đêm làm tôi không ḱm nổi xúc động. Trong lúc đó chúng ta thực ḷng phải đau đớn thừa nhận rằng: ḷng hiếu thảo đối với cha mẹ của nhiều nam nữ thanh niên Việt Nam đang trở thành nỗi lo lớn và là nỗi đau buồn không ít cho bậc cha mẹ. Có quá nhiều những đứa con cậy bố mẹ họ nhiều tiền đă lao vào cuộc sống thác loạn vô mục đích.

Anh S. đă quá thành công trong cuộc đời ḿnh. Nhưng anh thành công hơn trong việc nuôi dạy những đứa con anh. Nếu con anh là một kẻ nghiện ngập, lang thang rượu chè, cờ bạc và thiếu ân nghĩa th́ những đồng tiền chỉ mang lại niềm vui cho anh trong một khoảng khắc nhất định mà thôi.

Con trai anh đă tâm sự với tôi: “Khi về Việt Nam, cháu không chịu nổi khi nh́n những thanh niên xe này xe nọ, quần này áo nọ, hết nhà hàng lại quán bar, hết mát-sa lại ma tuư”.

Tôi cũng từng biết những người giàu có khác ở Việt Nam, nhưng tôi thấy họ sống khác anh. Họ giống những gă trọc phú. Họ nhanh quên những người bạn nghèo. Anh chơi với Tom, một người Đức nghèo, nhưng v́ Tom chân thành và thông minh. Tôi chơi với anh cũng bởi v́ anh dân dă và thẳng thắn. Những ǵ tôi viết dở là anh nói ngay: “Sao mà bài này ông viết dở hơi thế”.

Nhà văn chúng ta thường là văn ḿnh vợ người. Nhưng tôi không bao giờ tự ái v́ anh khen chê rất chân thành. Một lời chê chân thành giá trị gấp mười triệu lần những lời khen giả dối. Nhiều lúc tôi không hiểu nổi khi thấy anh ngồi bên một quán vỉa hè ăn chân vịt như một người túng thiếu trong khi đó anh sẵn sàng bỏ tiền xây một trường mẫu giáo hàng trăm triệu đồng cho một làng miền trung anh bất chợt đi qua mà không đ̣i hỏi một ơn huệ ǵ. Trước khi rời khỏi ngôi làng đó, anh nói với những người già của làng nếu cần ǵ cho các cháu nhỏ cứ viết thư cho vợ chồng anh. Vợ chồng anh sẵn sàng giúp đỡ. Tôi chứng kiến tận mắt sự việc ấy. Và tôi không thể không suy nghĩ về việc làm của vợ chồng anh dù đó chỉ làm một trong rất nhiều việc họ đă làm.

Khi bài viết này của tôi được đăng lên, tôi biết thế nào anh cũng lại nổi cáu và bảo: “Ông làm cái ǵ thế này”. Nhưng tôi thấy tôi cần phải viết ra một phần nhỏ về anh, một số phận đặc biệt, một nghị lực đặc biệt. Và anh là một người Việt Nam chính hiệu, sinh ra từ một cái làng chiêm trũng nghèo đói, chứ không phải là “Việt kiều” như một số Việt kiều thật hỏi tôi: “Ông ấy là Việt kiều à?”.

--------------------------

(C̣n nữa)

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều

diepanh - June 25, 2007 09:56 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (Chương XII)

Với tài trợ của Bộ Ngoại Giao Mỹ và sáng kiến của Trung tâm William Joiner, bốn nhà văn của bốn nước khác nhau đă gặp nhau ở Mỹ và hành tŕnh qua nhiều bang của đất nước này. Trước khi rời Việt Nam chừng một tháng, chị Rose Foley, người trực tiếp theo dơi chương tŕnh này của Trung tâm William Joiner, có email cho bốn chúng tôi và đề nghị hăy làm quen với nhau qua email trước khi đến Mỹ. Nhưng cuối cùng th́ chẳng ai viết cho ai cả. V́ chẳng ai biết ai và phải bắt đầu câu chuyện như thế nào. Nhưng tôi nhiều lần đọc tên từng người và cố h́nh dung ra những người bạn sẽ đồng hành với tôi. Và sau nhiều lần h́nh dung, ba cái tên kia vẫn xa lạ với tôi. Tôi biết, tên tôi cũng quá xa lạ với họ.

Đầu tháng Tư, chúng tôi gặp nhau ở Boston. Jeam Marie Kayishema người Ruwanda, kịch tác gia, 56 tuổi, da đen, giáo sư đại học quốc gia Ruwanda, thông thạo tiếng Anh và Pháp. Christopher Agee, nhà thơ, 47 tuổi, người Bắc Ai-len, da trắng, giáo sư đại học quốc gia Bắc Ai-len. Adisa Basic, nữ thi sỹ người Bosnia, 24 tuổi, da trắng, nói giỏi tiếng Anh và Đức, biên tập viên một tạp chí văn học ở Bosnia. Và tôi, Nguyễn Quang Thiều, Việt Nam, 46 tuổi, da vàng, biên tập viên Tuần báo Văn Nghệ, nói tiếng Anh trung b́nh. Ư đồ của người tổ chức là chọn bốn nhà văn từ bốn nước đă trải qua chiến tranh đến Mỹ để nói về con người và xứ sở của họ, nơi chiến tranh và cái chết đă từng đi qua

Trước khi đi, tôi quyết định im trăm cái “các các các cạc cạc cạc” ( nói theo cách của nhà báo Nguyễn Triều) để tiện giao dịch. Đây là lần thứ hai tôi in các. Lúc đầu tôi ghi: nhà thơ, nhà văn, nhà báo. Hoạ sỹ Lê Tâm, người tŕnh bày cái các này bảo: Chỉ cần ghi một chữ nhà thơ là đủ. Thế là tôi nghe theo.

Khi gặp các bạn nhà văn quốc tế, tôi rút các ra đưa cho mỗi người một cái. Họ cười bảo: Xin lỗi, tôi không có các. Nhưng những chuyện ấy chẳng có ǵ quan trọng. Chúng tôi nhanh chóng làm quen nhau và lên đường đi du ngoạn nước Mỹ.

Trước đó, chúng tôi chưa ai đọc của ai cái ǵ. Jeam Marie đă viết và dựng bốn vở kịch nhưng chưa xuất bản thành sách. Christopher xuất bản ba tập thơ. Adisa xuất bản một tập thơ. Và tôi đă xuất bản 24 đầu sách (không kể một tiểu thuyết mang tên người khác v́ lư do tế nhị không nói ra). Khi nghe tôi nói vậy, các nhà văn của ba nước kia kinh ngạc không hiểu tôi viết bằng cách nào.

Tôi nói với họ rằng 24 cuốn sách trung b́nh không bằng một cuốn sách hay. Nhưng tôi đă sống chết với con đường tôi chọn. Có thể cuối đời, tôi mới hoàn toàn nhận ra; tất cả những ǵ tôi viết chẳng c̣n ư nghĩa ǵ nữa. Có thể lúc đó tôi sẽ đủ can đảm đốt đi mọi thứ ḿnh viết. Nhưng có một điều mà ngay bay giờ tôi có thể tự hào. Đó là tôi đă lao động với tất cả sức lực và niềm đắm say của ḿnh. Tôi đă sống và làm việc cho khát vọng của tôi mà chẳng có ǵ khuất phục được dẫu có lúc tôi nao núng, hoang mang.

Nhiều nhà văn nói văn chương là phù phiếm, là cuộc chơi vô tăm tích. Họ đă quá sai lầm. Bởi khi nói đến sự phù phiếm và vô tăm tích nghĩa là họ đang cố t́m kiếm một lợi ích nào đó rất cụ thể và đầy dục vọng từ văn chương. Mà họ không biết rằng sáng tạo đó là sự sống. Nó không mang lại lợi nhuận tức th́ cho họ. Nó là sống, sống và sống. Nói như họ là cách nói đầy bảo hiểm cho nỗi sợ thất bại của họ trong cái mục đích mà họ thường khát thèm.

Trong tuần đầu tiên ở Boston, trung tâm William Joiner tổ chức chiếu phim của các nước có nhà văn tham dự chương tŕnh này. Phim Việt Nam đă được chiếu trước đó v́ nhà thơ, đạo diễn Đỗ Minh Tuấn sang Mỹ theo một chương tŕnh khác của William Joiner, đă chiếu Vua Băi Rác chiêu đăi khán giả tại một pḥng chiếu của đại học Harvard. Một đạo diễn Mỹ đă viết bài khen bộ phim này.

Khủng khiếp nhất là bộ phim 100 Ngày của Ruwanda. Cả bộ phim nói về chế độ diệt chủng ở đất nước này. Nhiều lần tôi định đứng lên bỏ ra ngoài v́ từ đầu đến cuối bộ phim là cảnh người Tutsi và người Hutu ở Ruwanda giết nhau như người ta giết gà ở chợ Việt Nam: lạnh lùng và thản nhiên. Đập một người giăy đành đạch xong lại đập người khác. Có lẽ v́ thế mà trong suốt chuyến đi, Jean Marie, một người đàn ông da đen, như một cái bóng của sự ám ảnh thi thoảng lại lướt qua tôi.




Jeam Marie sống lưu vong nhiều năm nay qua nhiều nước và cuối cùng ông đă trở về tổ quốc ông. Vợ con ông hiện giờ ở Canada. Ông t́nh nguyện trở về xây dựng tổ quốc ḿnh. Có lẽ màu da vẫn có một sự cách biệt nào đó.

Ông nói với tôi: tôi vẫn là một người da đen và họ vẫn là những người da trắng. Tôi không nhận thấy điều ấy. Có lẽ đó cũng là một trong nỗi ám ảnh của ông. Hai đêm đầu tiên ở Boston trong một ngôi nhà ông và các nhà văn khác thuê của một người Mỹ gốc Đức mới nhập cư chừng mươi năm nay. Ông bảo lạnh quá không ngủ được.

“Tôi đến ngôi nhà này đầu tiên - Ông nói vẻ bất b́nh – Nhưng người ta xếp cho tôi ở trong một căn pḥng không có giường. Tôi phải ngủ trên sàn với một tấm đệm mỏng. Tôi thuê nhà cơ mà”.

Tôi thực sự thông cảm với ông v́ tôi được ở trong một căn pḥng đẹp và đầy đủ tiện nghi trong ngôi nhà của một thi sỹ Mỹ. Đến New York, đoàn chúng tôi có bốn người, ba nam một nữ nhưng chỉ đăng kư ba pḥng. Vậy là có hai người phải ở chung nhau. Người ta xếp tôi và Jeam Marie ở cùng pḥng: một người da vàng và một người da đen.

Christopher và Adisa mỗi người một pḥng. Jeam Marie không hài ḷng. Nhưng tôi lại thấy thích thú v́ lần đầu tiên tôi sống chung với một người da đen châu phi. Tôi thích được quan sát ông. Và đêm nào cũng vậy, trước khi đi ngủ, Jeam Mrie ngồi trên giường lấy bơ xoa lên mặt và hai bàn tay. Đấy là một trong những cách dưỡng da của người da đen. Bơ làm nước da đen của ông bóng lên như đồng đen vậy.

Có một đêm tôi tỉnh giấc. Tôi thấy ông đang qú trên sàn nhà và đầu gục ở mép giường. Tôi sợ ông bị ốm. Ông bảo tôi đừng lo cho ông. Ông cảm thấy một nỗi ám ảnh và đe doạ nào đấy thi thoảng bao vây ông. Rồi ông nói về nỗi kinh hoàng của sự diệt chủng trên đất nước ông. Hơn một triệu người bị giết trong ṿng 100 ngày. Dân tộc ông là một dân tộc nghèo đói và nhỏ bé và chỉ có tám triệu người. Ông nói bây giờ mọi chuyện đă lắng xuống. Nhưng ông sợ một lúc nào đó nó sẽ lại xẩy ra như đă xẩy ra. Tuy vậy nhưng ông vẫn quyết định xa vợ con trở về tổ quốc.

Ông tâm sự với tôi là ông muốn trở thành Bộ trưởng Bộ văn hoá. Ông muốn xây dựng nền sân khấu hiện đại cho Ruwanda. Ông muốn lập Hội Nhà Văn. Ông muốn tiếng nói của nghệ thuật chân chính bay lên trên bóng tối của sự man rợ và chết chóc trên tổ quốc ông.

Và lại có một đêm tôi bất chợt tỉnh giấc. Trong bóng tối mờ ảo của căn pḥng. Tôi thấy một đôi mắt trắng nh́n về phía tôi. Tôi giật ḿnh. Nhưng ngay sau đó tôi trấn tĩnh lại v́ nhận ra đó là đôi mắt của người đàn ông da đen khó ngủ. Tôi đọc được nhiều điều trong đôi mắt đó. Đêm đêm, trước khi lên giường, ông thường đi đi lại lại im lặng trong căn pḥng. Có lẽ ông là người da đen nên nhiều lúc tôi không biết con người đang đi đi lại lại kia là ông hay cái bóng của ông in trên tường.

Khác với ông, Adisa là một cô gái trẻ sống sót qua cuộc chiến tranh ở Bosnia. Nhưng kư ức về chiến tranh và chết chóc có quá ít trong ḷng chị. Cái chị cần nhất là nhiều người biết đến thơ chị. Chị đă in tập thơ đầu tay và được một giải thưởng văn học Bosnia.

Mỗi khi đọc thơ, chị ăn mặc rất đẹp. Chị kẻ mí mắt và đánh son môi. Chị tươi cười thật rực rỡ trước độc giả. Chị đọc những bài thơ ngắn đầy thông minh cùng với những câu nói hài hước làm bạn đọc Mỹ thi thoảng lại cười ồ lên. Chị mang con mắt của một thế hệ khác. Đời sống trong thơ chị thật đơn giản và luôn luôn rạo rực niềm vui.

Chị giống một cô bé chạy trốn những bi kịch trong ngôi nhà của ḿnh để t́m đến một góc vườn yên tĩnh. Trong ngôi nhà ấy, chị không phải nh́n thấy nước mắt của người mẹ và cái dây tḥng lọng của sự tuyệt vọng của người cha. Nhưng rồi một ngày nào đó khi chị hiểu được đời sống này th́ cái dây tḥng lọng mà trước kia chị không nh́n thấy đêm đêm sẽ buông xuống lơ lửng trên đầu giường của chị.

C̣n những vở kịch của Jeam Marie là những cơn ác mộng. Jeam Marie càng ám ảnh bóng tối quá khứ bao nhiêu th́ Adisa càng tránh chạm vào nó bấy nhiêu. Jeam Marie không thể nào rời bỏ được quá khứ. Jeam Marie không có con đường tắt nào đến ban mai. Ông phải đi qua bóng tối. Ông không thể nào tách rời được lịch sử đẫm máu của dân tộc ông. Ông có thể b́nh an sống ở Canada như bao người lưu vong khác với vợ con, với những đêm tuyết bay, với những thảo nguyên bất tận, với những cái cây lộng lẫy trong mùa hạ, với những đầm nước rực rỡ trong ban mai…

Nhưng ông đă chọn con đường trở về tổ quốc ông, nơi bóng tối của man rợ, của cái chết có thể ập đến bất kỳ lúc nào. Ông đă không chạy trốn lịch sử, không chạy trốn tổ quốc ông. Ông có thể gục ngă đầm đ́a máu trong bóng tối. Nhưng chính lúc ấy. Bài ca của sự sống mới vang lên kỳ vĩ nhất. Bởi ông mang theo trong máu thịt ḿnh nỗi đau buồn và giấc mơ đầy ánh sáng về tổ quốc ḿnh.

Đêm qua, tôi thức đến ba giờ sáng để xem bộ phim The Pianist ( Nghệ sỹ dương cầm) của đạo diễn người Balan: Roman Polanski. Bộ phim kể về một nghệ sỹ chơi đàn piano người Balan đă sống sót qua chiến tranh trong thành phố bị quân Đức chiếm đóng.

Ông đă sống như một xác chết trong một ngôi nhà bị bom đạn tan hoang. Khi ông đang t́m cách đục hộp nước dưa hấu để có thể đi qua được cơn đói khủng khiếp th́ một sỹ quan Đức xuất hiện. Đôi mắt ông lúc đó ngập tràn nỗi tuyệt vọng. Cái chết đă hiện ra trước mắt ông.

Khi người sỹ quan Đức hỏi ông làm ǵ, ông nói: nghệ sỹ dương cầm. Trên gương mặt giá lạnh của người sỹ quan này chợt biến động. Người sỹ quan Đức dẫn ông sang pḥng bên cạnh nơi c̣n sót lại một chiếc đàn piano và đề nghị ông chơi một khúc nhạc nào đó. Ông đă ngồi xuống trước chiếc đàn. Và ông đă chơi với toàn bộ sinh khí c̣n lại trong tấm thân tàn tạ của ḿnh.

Âm nhạc đă vang lên trên đổ nát và đầy xác chết của thành phố. Có lẽ lúc đó, người nghệ sỹ nghĩ rằng: đấy là lần cuối cùng âm nhạc trong con người ông được cất lên. Ông đă chơi trong nỗi tuyệt vọng và cả nỗi khát vọng được sống, được làm người.

Ông đă phải chứng kiến cái chết của cả triệu người Balan trước mũi súng của lính Đức. Ông đă phải chịu đựng đói khát và sự săn lùng của lính Đức. Chỉ có thế âm nhạc mới vang lên bi thương và lộng lẫy như vậy. Chỉ có thế, âm nhạc mới cứu rỗi được ông.

Người lính Đức ngồi lặng đi trong âm nhạc ấy. Gương mặt ông dần dần toả sáng. Cả hai người, nghệ sỹ dương cầm và người sỹ quan Đức kia, đă đi qua và chứng kiến những ngày tháng khủng kiếp của thế gian. Cả hai tâm hồn ấy đều đau đớn. Chính v́ thế mà cả hai đă nh́n thấy cái đẹp hiện ra trong tột cùng của đời sống đen tối trong thời đại ấy.

Sau hơn một tháng lang thang trên nước Mỹ, Adisa, nữ thi sỹ trẻ ấy tưởng không bao giờ biết buồn lại muốn trở về nhà. Chị bảo chị nhớ mẹ. Chị muốn bay về một hai tuần rồi trở lại Mỹ. Chị bảo tôi là người sướng nhất đoàn v́ sách tôi đă được in ở Mỹ, v́ đi đâu tôi cũng gặp những người bạn cũ, v́ ở đâu cũng có quán ăn Việt Nạm.

Ở New York, Christopher đề nghị đến ăn tại quán ăn Việt Nam có tên là Mekong. Christopher biết đường sá nước Mỹ quá rành rọt. Đến New York, Washington, anh đều biết chỗ nào có quán ăn ngon, chỗ nào là quán càphê nổi tiếng. Anh sinh ra và lớn lên tại Mỹ, tốt nghiệp đại học Harvard rồi chuyển sang sinh sống ở Bắc Ai-len.

Tôi không hỏi anh v́ lư do ǵ mà anh đi khỏi nước Mỹ khi quá nhiều người Việt Nam chúng tôi không v́ lư do ǵ bắt buộc vẫn t́m đường đến xứ sở này. Và bây giờ, anh lại đang t́m cách để hiểu nước Mỹ. Tôi thấy anh h́nh như bắt đầu mới biết nước Mỹ. Phải chăng anh đă từng mang quốc tịch Mỹ mà bây giờ tôi thấy anh rụt rè hơn chúng tôi trước người Mỹ.

Tối hôm đó, tôi đă trả tiền bữa ăn ở nhà hàng Mekong với giá 80 USD. Họ ngạc nhiên lắm. Tôi nói tôi mời họ v́ lần đầu tiên họ đến quán ăn Việt Nam. Phong tục của người Việt Nam là thích mời khách ăn cơm. Bữa tối hôm đó sẽ là một bữa tối tuyệt vời nếu người hầu bàn không đ̣i thêm tiền boa. Chúng tôi đă để lại hai đô la rưỡi nhưng người hầu bàn nói là quá ít. Anh ta đặt rất mạnh cái khay đựng tiền boa xuống mặt bàn và làu bàu bỏ đi. Hành động của người hầu bàn tối hôm đó như một cái xương cá mắc vào răng hàm tôi trong một bữa tiệc ngon mà măi không lấy ra được.

Hơn ba tuần chu du qua nhiều bang, chúng tôi sống trong không khí thật thân ái, thật thánh thiện. Có lẽ bởi chúng tôi chỉ gặp các trí thức, các nhà thơ và sinh viên. Cứ vài ngày, chúng tôi lại có một cuộc đọc thơ. Mọi người đến những pḥng đọc đẹp đẽ, ấm cúng và ngôn ngữ thi ca đă bay lên. Hầu hết các buổi đọc, tôi đều đọc tiếng Việt và một nhà thơ Mỹ giúp tôi đọc bản tiếng Anh.

Gần như tất cả người nghe trong những buổi đọc thơ ấy chưa bao giờ nghe một nhà thơ Việt Nam đọc thơ bằng tiếng Việt. Thơ của tôi là thơ không vần. Nhưng tôi vẫn có thể nói rằng nó đă quyến rũ nhiều người nghe bởi sự lăng mạn và nhạc tính của ngôn ngữ chúng ta.

Và tôi có thể tự hào rằng: tôi đă mang đến cho bạn đọc Mỹ một phần nhỏ cái đẹp của ngôn ngữ Việt trong giọng đọc của ḿnh. Mỗi khi cất giọng đọc bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của ḿnh, tôi thấy không phải đang đứng trên nước Mỹ mà đang đứng trên miền châu thổ rộng lớn của xứ sở chúng ta. Và tôi đă kể cho họ nghe dù một điều nhỏ bé về những ǵ mà những người dân b́nh dị trên xứ sở chúng ta đă gánh chịu, đă vượt qua, đă khổ đau và mơ ước.

Chúng tôi đă đi được nửa chặng đường trong chương tŕnh ở Mỹ. C̣n hơn một tháng nữa chúng tôi sẽ chia tay nhau. Có thể đến lúc ấy tôi mới hiểu được những người bạn đồng hành của tôi. Nhưng đêm nay tôi muốn viết những ḍng này. Bởi đêm nay, trong căn pḥng của tôi lúc hai giờ sáng, tôi chợt thấy cái bóng của người đàn ông da đen lướt qua và đôi mắt trắng của ông nh́n về phía tôi.

--------------------------

(C̣n nữa)

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều



diepanh - June 26, 2007 02:04 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (chương XIII)


Sang Mỹ được gần hai tháng tôi mới đến thăm Diệu Linh. Ngay tuần đầu tiên đến Mỹ, Diệu Linh đă gửi email cho tôi: “ Chú Thiều ơi, chú phải đến nhà ăn cơm với vợ chồng cháu”. Nhưng v́ bận công việc măi tôi mới tới được. Tôi cũng muốn đến xem cô sống một cuộc sống mới ra sao.




Diệu Linh là con gái cả nhà văn Tô Nhuận Vỹ. Cô tốt nghiệp khoa tiếng Anh đại học Huế cách đây chừng sáu năm. Tôi gặp cô khi cô đang học năm thứ ba đại học. Một cô gái Huế xinh đẹp, ngoan ngoăn và thông minh. Tôi đă nhờ cô dịch giúp tôi trong buổi gặp gỡ giữa các nhà văn Mỹ và nhà văn Huế. Dù nói tiếng Anh, nhưng giọng Huế của cô vẫn dịu dàng và dễ “chết người”.






Nhà văn Tô Nhuận Vỹ có ba cô gái đều có năng khiếu ngoại ngữ. Cô con gái thứ hai, Diệu Lan, là một trong những phiên dịch trẻ nhưng rất giỏi của Bộ Ngoại Giao. C̣n cô gái út cũng đang học ở Học viện Quan hệ Quốc tế. Khi Diệu Linh vừa ra trường th́ một tai nạn khủng khiếp ập đến. Gă thanh niên từng theo đuổi cô đă dùng một lon axit tạt vào giương mặt đẹp như hoa của cô. Và tất cả lúc đó đối với cô như đă chấm dứt.

Tôi gọi điện cho nhà văn Tô Nhuận Vỹ khi ông đang ở Sài G̣n bên giường bệnh của con gái ông. Khi nói chuyện với tôi về những ǵ đă xẩy ra với con gái ḿnh, lúc đó ông không khóc, nhưng tôi biết có một lưỡi dao vô h́nh đang cắt từng khúc ruột của ông, đang đâm từng nhát vào trái tim ông. Có lẽ đó là nỗi đau đớn lớn nhất mà ông phải gánh chịu trong cuộc đời ḿnh, hơn cả vết thương bom đạn mà ông từng gánh chịu trong chiến tranh.

Với hầu hết tất cả những người cha, người mẹ th́ những đứa con là tài sản tinh thần lớn nhất của cuộc đời họ. Họ sẵn sàng gánh chịu tất cả cho những đứa con. Khi con gái tôi c̣n nhỏ, cháu hay đau ốm, bệnh tật. Tôi đă đi chùa và khấn rằng: hăy lấy đi những ǵ của tôi có như đôi mắt, đôi chân hay đôi tay chứ đừng bắt con gái tôi phải gánh chịu điều ǵ. Với chúng ta, những đứa con lúc nào cũng bé bỏng và tội nghiệp cần được che chở.


Tôi có xem một bộ phim Mỹ về một câu chuyện có thật của một gă trùm ma tuư. Tên tội phạm này bị kết án tù 250 năm. Ngày ngày trong khu vườn của nhà tù, gă chỉ đợi chờ một điều duy nhất : đó là đứa con gái của gă sẽ đến thăm gă. Nhiều lúc, gă sống trong ảo giác như một kẻ tâm thần. Đứa con gái của gă đă lớn vào thăm gă. Cô gái đă ôm lấy gă khóc và gọi gă.

Gă chỉ có thể tỉnh khỏi cơn mê mỗi khi người cảnh sát trại giam gọi gă về khi bóng tối đă đang trùm xuống khu vườn nhà tù. Nhưng quanh gă chẳng có ai ngoài những bức tường nhà tù im lặng. Và cứ thế, suốt hàng chục năm trong nhà tù, gă đă mơ giấc mơ đau đớn và tội nghiệp ấy, nhưng gă không bao giờ gặp được cô con gái. Gă đă chết trong tuyệt vọng.

Tôi nghe nói nhà văn Tô Nhuận Vỹ đă có lúc rơi vào tuyệt vọng v́ quá thương xót đứa con của ḿnh. Một đứa con xinh đẹp nhường kia, hiền thảo nhường kia và đang đầy mơ ước của một tương lai tốt đẹp bỗng mang một gương mặt kỳ dị. Ông sẽ phải chịu đớn đau và kinh hoàng như thế nào khi nh́n thấy mặt con.

Lúc đó, tôi nghĩ ông phải đưa con ḿnh sang Mỹ để phẫu thuật. Với những phương tiện hiện đại nhất và với điều kiện chữa bệnh tốt nhất hiện nay trên thế giới, các bác sỹ Mỹ sẽ giúp con gái ông được một phần nào đó. Lúc đó, tôi nghĩ đến nhà thơ Kevin Bowen.

Tôi nói với nhà văn Tô Nhuận Vỹ về điều đó và tôi viết thư cho Kevin. Kevin đă làm tất cả những ǵ có thể cho những người bạn Việt Nam và cho Việt Nam như ông đă từng làm. Cuối cùng, Kevin và những người bạn Mỹ khác đă đưa được Diệu Linh sang Mỹ để chữa bệnh. Họ đă t́m cho Diệu Linh một học bổng.

Trong thời gian học và chữa bệnh tại Mỹ, một chàng trai Mỹ đẹp trai làm nghề kế toán cho một công ty thương mại Mỹ đă yêu Diệu Linh và cưới cô làm vợ. Một điều kỳ diệu đă xẩy ra trên thế gian này. Tôi đă nói với một người bạn ở Việt Nam rằng : Thượng đế luôn luôn t́m cách che chở cho những con người bất hạnh và yếu đuối.

Thượng đế đă chọn chàng trai người Mỹ kia để che chở và an ủi Diệu Linh. Phải có một t́nh thương lớn và một t́nh yêu hoàn toàn trong sáng và mănh liệt như lửa th́ chàng trai kia mới đi đến hôn nhân với một cô gái mang gương mặt như thế. Họ đă làm hôn lễ. Cô dâu Diệu Linh đă đưa chồng ḿnh về quê hương cô, thành phố Huế thơ mộng. Nhà văn Tô Nhuận Vỹ đă khóc trong hạnh phúc và tổ chức tiệc lớn mừng con gái ông.

Tôi cùng gia đ́nh Kevin đă đến thăm ngôi nhà mới của vợ chồng Diệu Linh. Một ngôi nhà rất đẹp. Đôi vợ chồng trẻ này đă cùng nhau sửa sang ngôi nhà cũ thành một ngôi nhà đẹp. Trong nhà có rất nhiều tranh ảnh và các đồ thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Bước vào ngôi nhà này dù chưa biết chủ nhà là ai th́ cũng dễ dàng nhận ra đó là ngôi nhà của một người Việt. Diệu Linh ôm lấy tôi xúc động. Giọng nói và sự dịu dàng rất Huế của cô vẫn như bảy năm về trước tôi gặp cô ở Huế.

Tôi nh́n vào gương mặt cô. Cô nh́n tôi và nói: “Cháu đă phẫu thuật mười một lần rồi mới được thế này đấy chú ạ”. Rồi cô tíu tít hỏi thăm tôi. Và chỉ sau mươi phút, tôi không c̣n thấy sự khác biệt giữa một Diệu Linh bây giờ và một Diệu Linh bảy năm về trước. Một cái ǵ đó thật tuyệt vời đă xoá đi những khác biệt về h́nh thức của cùng một con người. Ngay sau ấy, một chàng trai trẻ, hiền lành bước vào. Diệu Linh bảo tôi: “Chồng cháu đấy”. Rồi cô dưới thiệu tôi với chàng trai người Mỹ kia: “Đây là chú Thiều, bạn của bố Vỹ”. Chàng trai bắt tay tôi và nói bằng tiếng Việt: “Chào chú”.


Trước bữa ăn tối, chồng cô dẫn tôi ra mảnh vườn sau nhà và nói vợ anh đă làm mảnh vườn đó. Giữa mảnh vườn nhỏ có một luống rau cải. Sau bữa tối, cô pha trà Việt Nam, cô mang bánh đậu xanh Hải Dương, kẹo mè sửng Huế và mứt gừng do mẹ cô làm gửi sang mời mọi người. Cô đă hoàn toàn thổi vào ngôi nhà giữa nước Mỹ một đời sống thuần Việt.

Chàng trai người Mỹ kia đă đón nhận những ǵ mà vợ anh muốn. Trong khi uống trà và nói chuyện, anh luôn luôn nh́n vợ ḿnh bằng đôi mắt dịu dàng và yêu thương. Suốt buổi tối hôm ấy, tôi đă nhận thấy trong đôi mắt của chàng trai kia nh́n vợ có ánh mắt của một người cha, ánh mắt của một người chồng, của một người t́nh, của một người bạn và có cả ánh mắt của Thượng đế. Cô đă được ban phước. Và tôi thấy trên thế gian của chúng ta luôn luôn có sự hiện h́nh của quỉ và của thánh thần.

Một gă đàn ông đă huỷ hoại đời cô th́ ngay sau đó có một người đàn ông khác đă cứu vớt đời cô. Dù ba má cô, chị em và bè bạn cô có yêu thương cô đến đâu cũng không thể an ủi cô khỏi tuyệt vọng bằng t́nh yêu của người đàn ông kia.

Diệu Linh đă tốt nghiệp cao học ở Mỹ và đă đi làm. Cô kể cho tôi nghe bao nhiêu chuyện. Có thể tôi chẳng c̣n nhớ lắm những câu chuyện ấy. Nhưng có một điều tôi không thể quên là giọng nói lạc quan và tự tin của cô. Lư do ǵ đă mang lại cho cô một sự tự tin như vậy ? Tôi nghĩ có nhiều lư do. Đó là bản lĩnh của cô, là những cuộc phẫu thuật thành công của y học Mỹ làm cho gương mặt của cô trở nên gần gũi với chính cô và với mọi người hơn, là những niềm vui mà cô t́m thấy trong cuộc đời đă có những ngày tháng bất hạnh...

Nhưng điều quan trọng nhất, theo tôi, đó là t́nh yêu của chàng trai người Mỹ kia giành cho cô. Nếu cô vẫn chỉ sống trong cô đơn, để mỗi buổi chiều đi làm về lại sống một ḿnh trong căn pḥng đi thuê giữa nước Mỹ mênh mông và nhiều xa lạ, để mỗi lúc nh́n vào gương lại thấy hiện nên gương mặt đau đớn của ḿnh th́ cô sẽ không sống nổi. T́nh yêu đă cứu vớt cô. Theo tôi, đó là một t́nh yêu quá lớn, quá kỳ diệu. Thượng đế đă ban phước cho cô và cô phải giữ lấy.

Tôi có nghe một câu chuyện giống như một câu chuyện cổ tích về một cô gái có gương mặt như cô. Cô gái ấy bị mọi người xa lánh. Nhưng có một chàng trai đă yêu thương cô gái ấy. Chàng trai ấy đă yêu những ǵ cô có trong tâm hồn và số phận cô và đă lấy cô làm vợ. Cô gái ấy đă được một bác sỹ như có pháp thuật chữa cho gương mặt cô dần dần trở lại xinh đẹp như xưa. Khi cô có được gương mặt đẹp như xưa cũng là lúc cô trở nên rất giàu có.

Hàng ngày cô giành rất nhiều thời gian để chiêm ngưỡng giương mặt xinh đẹp của ḿnh trong gương và ngắm nh́n vàng bạc của cô đựng trong những chiếc rương lớn và cô bắt đầu trở nên kiêu ngạo. Khi gương mặt đẹp của cô và vàng bạc của cô trở nên rực rỡ th́ tâm hồn cô bắt đầu mờ tối. Trước kia, cô luôn luôn thấy ḿnh bé bỏng và yếu đuối. Lúc nào cô cũng sợ hăi và cô cần sự che chở của chàng trai.

Cô sống như một cái cây bé bỏng trong băo gió của đời sống. Cô yêu tất cả những ǵ yếu đuối và muốn che chở chúng. Cô sống trong t́nh yêu đối với chồng cô như đối với một vị thánh bởi cô luôn luôn thấy rằng: nếu không có người đàn ông ấy th́ cô đă bị ném vào bóng tối của sự lăng quên và cô độc.


Người đàn ông ấy đă kéo cô ra khỏi sự sợ hăi và tuyệt vọng. Nhưng bây giờ cô thấy chính cô đang ban ơn cho người đàn ông. Bởi cô nghĩ cô là một người đàn bà có nhan sắc và giàu có. Cô nh́n lại người chồng của ḿnh và thấy anh thật ngờ nghệch và tội nghiệp. Anh ta chỉ là một công chức quèn và sống quá vụng về.Anh ta luôn luôn nói đến vẻ đẹp của tâm hồn, cái mà bây giờ đối với cô chỉ là một sự lăng mạn hăo huyền. Và người đàn ông ấy đă bỏ đi v́ không c̣n yêu cô nữa. Bởi cô đă đánh mất cái mà người đàn ông đă v́ đó mà yêu cô.

Cô sống với những lời ca tụng, những sự săn đón của những kẻ muốn lợi dụng nhan sắc và tiền bạc của cô. Nhưng mọi sự giả dối không bao giờ tồn tại được lâu. Vở bi hài kịch kết thúc. Tiền bạc và một tâm hồn trống rỗng đă không mang lại niền vui đích thực cho cô. Nhưng tất cả đă muộn. Cô không thể được ban phước hai lần.

Bây giờ ở Việt Nam, những vụ tạt axit ngày một nhiều hơn và man rợ hơn. Tội ác ấy khủng khiếp hơn rất nhiều những tội ác khác. Bởi nạn nhân vẫn phải sống và chứng kiến sự sau đớn và tuyệt vọng của chính ḿnh hàng ngày hàng tháng. Tôi hỏi một số người Mỹ về loại tội ác này th́ tất cả trả lời là họ chưa nghe nói về tội ác này ở Mỹ. Hầu hết những vụ tạt axit là v́ t́nh.

T́nh yêu, sự ban phước của Thượng đế cho con người. Nếu không có t́nh yêu, cuộc sống không c̣n ư nghĩa ǵ nữa. Nhưng t́nh yêu cũng là sự đày đoạ đau đớn đối với con người. Hôn nhân đă xuất hiện. Nó giống như ṿng kim cô thắt vào trái tim con người.

Con người đă quá đau khổ v́ hôn nhân. Và qua hàng thế kỷ đấu tranh, con người đă t́m được quyền thoát khỏi hôn nhân khi nó trở thành sự đày đoạ họ. Khi vợ chồng không c̣n yêu nhau hay người vợ hoặc người chồng không c̣n t́nh yêu đối với người kia nữa th́ cách tốt nhất là để cho người đó tự do đi khỏi ngôi nhà hôn nhân. Con người hiểu rơ điều đó nhưng lại không chịu đựng được điều đó. Và họ trở nên thù hận và t́m cách trả thù nhau và một sự trả thù dă man như tạt axít xuất hiện.

Những người may mắn được sang Mỹ chữa bệnh như Diệu Linh quá hiếm hoi. Những người may mắn có được một t́nh yêu như cô lại càng hiếm. H́nh như những nạn nhân như Diệu Linh ở Việt Nam chưa có ai may mắn như Diệu Linh. Từ nhà vợ chồng Diệu Linh trở về, tôi nghĩ cô như một cô gái trong chuyện cổ được ban cho ba hạt đào tiên.

Cô đă cắn vỡ hạt đào thứ nhất và đang dần dần t́m lại từng phần của gương mặt xưa. Cô đă cắn hạt đào thứ hai và cô có được t́nh yêu và hạnh phúc. C̣n một hạt đào nữa. Tôi cầu mong cô không phải cắn đến hạt đào cuối cùng này. Mà có lẽ, toàn bộ phép tiên trong hạt đào thứ ba này lại chính là cô.

----------------

(C̣n nữa...)

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều

phongdiep - June 30, 2007 08:15 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (chương XIV)






Tôi được Ban lănh đạo khu sáng tác mang tên nhà văn giải Nobel Henrich Boll ở Ai-len mời đến nghỉ và sáng tác trong ba tuần tại khu nhà này. Đó chính là ngôi nhà mà nhà văn Henrich Boll đă đến vùng này dựng lên và sáng tác trong một thời gian dài. Tại đây, ông đă viết nhiều tác phẩm quan trọng.

Bây giờ, hàng năm Ban lănh đạo khu nhà này mời một số nhà văn trên thế giới đến đó nghỉ và sáng tác. Và hầu như mỗi lần họ chỉ mời một nhà văn. Trước cổng ngôi nhà có một tấm biển với ḍng chữ : Nơi đây đang trú ngụ một nghệ sỹ, xin đứng quấy rầy đến sự suy ngẫm và sáng tạo của họ.




Ngôi nhà nằm dưới chân một dăy đồi bên cạnh bờ biển ở Achill, Ai-len. Đây là lần đầu tiên tôi đến đất nước này. Từ sân bay phải đi ô tô mất năm tiếng mới về đến khu sáng tác đó. Khi đến tôi mới nhận ra đó là một vùng đồi. Những quả đồi nối nhau bất tận như không bao giờ hết. Ngôi nhà đầy đủ tiện nghi để một nhà văn có thể sinh sống và làm việc. Pḥng ngủ, pḥng khách, pḥng vẽ, bếp…

Trong nhà sáng tác có một chiếc xe đạp để nhà văn có thể dùng làm phương tiện đi lại. Đứng từ sân ngôi nhà nh́n ra chỉ thấy những triền đồi liên tiếp và thi thoảng dưới chân đồi xa xa hiện lên một ngôi nhà nhỏ bé. H́nh như nơi này chỉ có đồi, những thảo nguyên cỏ bất tận và gió thổi suốt năm tháng.

Một cảm giác cô đơn và hoang vu sẽ tràn ngập ḷng tôi nếu tôi không nh́n thấy những đàn cừu lớn đi lang thang trên những triền đồi. Người quản lư nhà sáng tác nói với tôi có thể dùng xe đạp đi xuống những làng gần đó mua thực phẩm và tṛ chuyện với những người nông dân xứ này.

Tôi vừa rời nước Mỹ với những thành phố khổng lồ ngạt thở v́ người và xe đến một nơi chỉ có tiếng gió. Đêm đầu tiên tôi sống một ḿnh trong ngôi nhà trên vùng đồi ấy, một cảm giác vừa lo sợ mơ hồ vừa phấn kích ùa vào tôi. Gió từ biển suốt đêm thổi qua những quả đồi và rít trên mái nhà và những ô cửa. Sau gần nửa tháng ở đây, tôi thấy chưa bao giờ gió ngừng thổi.


Tôi hỏi một người nông dân già và ông nói từ lúc ông sinh ra và lớn lên trên vùng đồi này cho đến bây giờ gió chưa ngày nào ngừng thổi. Và có lẽ vậy mà trên vùng đồi này tôi không hề nh́n thấy một cái cây lớn nào. Cả vùng đồi là cỏ và hoa dại cùng những thứ cây có thể chịu được gió.

Cứ lúc nào bước ra khỏi nhà tôi cũng thấy gió thổi như muốn bứt hết tóc của ḿnh. Trong tiếng gió là tiếng cừu kêu như tiếng trẻ con gọi mẹ. Những người nông dân ở đây không làm chuồng cho cừu. Họ thả cừu suốt năm như vậy trên những vùng đồi. Suốt đêm ấy h́nh như tôi không ngủ.

Tôi ngồi trong chiếc ghế rộng bên ḷ sưởi lửa cháy suốt đêm. Đă sang đầu tháng Bảy nhưng trời vẫn lạnh. Suốt ngày sương mù che khuất những đỉnh đồi cao.

Sáng sau tôi đạp xe xuống phố sớm. Người dân ở đây thấy một người Châu Á xuất hiện lấy làm lạ. V́ ở vùng này không có người Châu Âu nào sinh sống.

Tôi nói cho họ biết tôi là nhà thơ từ Việt Nam đến và đang ở tại nhà sáng tác Henrich Boll th́ mọi người ồ lên và kết bạn với tôi ngay. Tôi nói với một người nông dân rằng khi ở Việt Nam tôi có đọc một bài báo viết cứ năm người dân Ai-len th́ có một nhà thơ. Họ cười và nói lại rằng cứ năm người Ai-len th́ trong đó có một người hoặc là nhà thơ, hoặc là nghệ sỹ hát dân ca, hoặc là hoạ sỹ. Có lẽ v́ thế mà Ai-len chỉ có bốn triệu người th́ đă có bốn nhà văn nhận giải Nobel.

Những ngày sau đó, tôi thường lang thang xuống một làng gần đấy để tṛ chuyện với những người nông dân. Nếu không ai nói họ là nông dân th́ tôi cũng khó ḷng biết được. Họ sống trong những ngôi nhà nhỏ nhưng đầy đủ tiện nghi và rất hiện đại. Hầu hết nhà nào cũng có xe hơi. Làng có khách sạn cho khách du lịch, có siêu thị và có sân chơi gôn. Mọi làng ở đây đều không có chính quyền thôn hay chính quyền xă. Chỉ có hai thứ mang tính tập thể: đó là nhà thờ và bưu điện. Tất cả cứ thế mà sống theo pháp luật.

Những người nông dân ở đây hầu như không cấy trồng ǵ cả. Thu nhập của họ là chăn nuôi cừu và một số gia súc khác. Ngoài ra họ có một nguồn thu nhập không lớn lắm nhưng có lẽ không bao giờ cạn. Đó là đất. Trên những thảo nguyên mênh mông tôi nh́n thấy rất nhiều đống bao tải chất cao. Đó là những bao tải đựng đất để bán.


Họ bán đất làm chất đốt trong các ḷ sưởi để chống lại mùa đông như kéo dài cả năm ở vùng này. Đất của toàn bộ vùng này là đất đen. Một thứ đất đen như than. Đất này là do cây rừng của hàng triệu năm về trước để lại.

Tôi vô cùng ngạc nhiên trước sự kỳ lạ lần đầu tiên tôi được biết này. Những người nông dân cứ việc đào đất và phơi khô ngay trên đồng. Chỗ đất mỏng chỉ chừng 40cm. Nhưng chỗ dày có thể đào sâu hàng mét cũng chưa hết. Loại đất đen này trải mênh mông gần hết cả vùng phía đông Ai-len. Dù cho cả bốn triệu người Ai-len đào đất bán th́ đến trăm đời sau cũng không bán hết đất được.

Sau khi đào đất lên, họ ép lại thành từng thỏi như những khúc củi và bán. Mỗi cân đất khô bán được khoảng một phần ba ơro (khoảng sáu đến bảy ngàn đồng tiền Việt Nam). Đất này cháy rất đượm than và khói có mùi rất dễ chịu. Và trên thứ đất này, người ta rất khó trồng các loại ngũ cốc và rau quả, nhưng cỏ th́ lại vô cùng tốt tươi và hoa dại nhiều vô kể.

H́nh như ở đâu cũng thế, cỏ có thể sống và vươn lên trong mọi khắc nghiệt. Có lẽ v́ thế mà các nhà thơ thường ví nhân dân như cỏ, im lặng và bền bỉ, mạnh mẽ và bất tận, mọc lên trên tất cả mọi vương quyền.

Buổi tối, những người nông dân thường tụ tập ở các quán bar. Tôi không hề thấy có bất cứ một quán bar nào ở đây giống các quán bar ở Việt Nam. Những người nông dân đến quán bar uống bia tươi và chơi nhạc. Cả bốn triệu người Ai-len đều có thế hát dân ca và thuộc các câu chuyện cổ tích của xứ sở ḿnh.


Những ngôi nhà cổ trong làng đều có lịch sử của nó. Lịch sử của ngôi nhà hầu hết cũng giản dị như chính những ngôi nhà ấy. Nhưng mọi đứa trẻ ở đây đều có thế kể cho tôi về ngôi nhà ấy sinh ra như thế nào và những ai đă sống trong ngôi nhà ấy với những câu chuyện về số phận của họ.

Trong các quán bar, những người nông dân uống bia, chơi billard và ca hát đến khoảng một giờ sáng. Trời ở đây rất lạ, chỉ thực sự tối lúc 11 giờ đêm. Mười rưỡi tối vẫn có thể xâu kim bên cửa sổ được mà không cần đèn. Mùa đông th́ trời tối sớm hơn một chút. Nhưng điều ấy đối với người dân chẳng quan trọng ǵ. Họ làm và chơi đến khi nào buồn ngủ th́ ngủ, đến khi nào muốn thức dậy th́ thức dậy.

Họ sống nhàn nhă với công việc, với thi ca, với âm nhạc và với thiên nhiên. ở đây không có trộm cắp và không ai cần khoá cửa bao giờ, gia súc nuôi cứ thả trên đồng suốt tháng này năm nọ, xe hơi cứ vứt ngoài đường, cửa hiệu bao quanh là những cửa kính mỏng chỉ đập một nhát là có thể chui vào.

Thực sự cuộc sống của người dân Ai-len không phải là giàu. Họ là dân một nước trung b́nh và cũng trải qua không ít chiến tranh. Nhưng họ đă sống như thế. Lúc này nghĩ đến xứ sở chúng ta, tôi thật sự kinh hăi, cứ hở cái ǵ là mất, hở quần mất đằng quần, hở áo mất đằng áo, hở xe mất đằng xe, thậm chí hở chó mất đằng chó.

Ở đây không có say rượu, không có đánh căi chửi nhau, không họp hành kiểm điểm và họ được quyền tin những ǵ họ tin, được quyền yêu những ǵ họ yêu và chẳng có ai bắt họ phải tin cái này hay yêu cái kia. Mấy hôm trước tôi đến đọc thơ ở thành phố Sligo.

Tại pḥng chính của Trung tâm văn hoá nghệ thuật thành phố nơi tôi đọc thơ cả một buổi tối có treo một bức tranh chính. Đó là bức tranh vẽ một con ḅ sữa. Đối với người dân vùng đó th́ con ḅ là biểu tượng của ấm no và nhân hậu. Con ḅ quá gần gũi, quá cần thiết với người Ai-len vùng này từ xưa. Nó không phải là biểu tượng của tin ngưỡng mà nó chỉ là t́nh yêu.

Họ yêu con ḅ và họ có quyền đặt con ḅ lên nơi trang trọng. Họ đă được sống đúng con người họ, họ được mơ những giấc mơ của họ, họ được khóc những nỗi buồn đau của họ.

Có lẽ không ở đâu lại yêu các nhà thơ như người của đất nước này. Sau đêm đọc thơ, tôi được một người bạn đưa đi chơi phố. Chúng tôi tạt vào một xưởng làm tượng gỗ của một nghệ nhân trên phố và tôi vô cùng ngạc nhiên nh́n thấy tờ quảng cáo đêm thơ của tôi treo bên cạnh những thông tin văn hoá khác.


Người nghệ nhân kia chưa bao giờ biêt tên tôi, chưa bao giờ đọc thơ tôi, ông chỉ cần biết có một nhà thơ từ xa xôi đến đọc thơ ở thành phố của ông thế là ông hănh diện và quí trọng. Ông nói với tôi: Tôi chưa bao giờ đọc thơ anh, hay thế nào, dở thế nào tôi không biết, nhưng tôi tin vào hai chữ nhà thơ. Hai chữ ấy là chứng minh thư quan trọng nhất của tâm hồn anh.

Mấy hôm trước, tôi vừa đi thăm một nhà thơ, nhà văn rất nổi tiếng của Ai-len: bà Leland Bardwell. Bà đă hơn bảy mươi tuổi và sống trong một ngôi nhà quá giản dị bên bờ biển. Pḥng viết của bà thật giống như một cái bếp của một nhà nghèo ở Việt Nam. Bà đă chuyển từ thành phố về và sống ở đó hơn hai mươi năm nay.

Ngôi nhà đó cũng giống như ngôi nhà sáng tác tôi đang ở, lẻ loi giữa một vùng đồi và biển cả mênh mông rất ít khi nh́n thấy bóng người. Chiếc bàn để ngoài vườn tiếp khách của bà là một cái khung gỗ tṛn để cuộn dây điện cáp. Tất cả đời sống vật chất và phương tiện của một nhà thơ danh giá chỉ như thế; không một chút ham muốn vật chất hay quyền lực. Và chỉ như thế đất nước này mới sinh ra cho thế giới những nhà thơ vĩ đại.

Và lúc này, dù không muốn th́ tôi vẫn phải nghĩ về các nhà văn của xứ sở chúng ta. Họ quá dày ṿ với vật chất và những thứ quyền lực vô nghĩa.

Tôi nhớ mỗi lần Đại hội nhà văn toàn quốc là cả một chiến dịch của kiện cáo nhau, vu khống nhau, xu nịnh nhau, chửi rủa nhau, có nhà văn viết bài với bút danh khác tự ca ngợi chính bản thân ḿnh, rồi họ nhóm họp nhau để bày đặt các kế hoạch làm sao trở thành uỷ viên Ban chấp hành.

Tại sao những người mang danh nhà văn, nhà thơ lại có thể điên rồ với thứ quyền lực này. Ôi, thật nực cười và thật cay đắng. Có lẽ đó chính là lư do mà nền văn chương xứ sở chúng ta kém cỏi như vậy. Một dân tộc có một số phận lớn và đầy bi thương nhưng không hề có một tác phẩm hiện đại nào chúng ta cúi đầu chiêm ngưỡng.

Xin các nhà văn chúng ta đừng tiếp tục ảo tưởng về những ǵ chúng ta đă viết ra suốt hơn nửa thế kỷ nay. Xin các nhà văn Việt Nam hăy mau mau tỉnh khỏi cơn mộng mị về sự vĩ đại của ḿnh để nh́n thấy sự yếu hèn và thấp kém của ḿnh. Để chúng ta bắt đầu với những bước đi đầu tiên về sự sáng tạo và tự do. Để một ngày nào đó, một nhà văn Việt Nam trong tương lai xuất hiện và viết những trang sách lộng lẫy và bi tráng về xứ sở chúng ta và chữa nỗi hổ thẹn cho văn học chúng ta.

Tôi nói vậy sẽ có không ít các nhà văn nguyền rủa và căm thù tôi. Hăy nguyền rủa và căm thù tôi để rồi sau đó lặng lẽ ngồi xuống đọc lại những ǵ ḿnh viết và suy ngẫm thực ḷng về nó. Hăy làm điều đó, các anh, các chị và cá nhân tôi, những người đă bị thời gian bỏ quên h́nh như đă lâu lắm rồi.

Đêm nay, tôi lại ngồi im lặng bên ḷ sưởi trong ngôi nhà của Henrich Boll. Xung quanh tôi chỉ có những quả đồi xứ Ai-len bất tận, chỉ có tiếng gió suốt đêm từ biển cả thổi vào, chỉ có ḿnh tôi. Và trong tiếng gió vẳng lên như từ xa xôi tiếng cừu kêu đêm nghe như tiếng trẻ gọi mẹ. Đây là lần đầu tiên tôi sống trong khung cảnh này.

Tôi có cảm giác như ḿnh đang sống trên phần đất cuối cùng của thế gian và chỉ cần đi qua bên khi dăy đồi là đến một thế giới khác. Tôi phải cám ơn số phận đă cho tôi được đi qua những năm tháng có đau đớn, có hạnh phúc, có buồn bă, có mệt mỏi và được sống ở nơi đầy sự hoang vắng, hoang vắng tưởng như vô tận này.

Có những buổi chiều tôi lang thang trên vùng đồi giống như chàng Robinson xưa. Và trên khắp vùng đồi kia bạt ngàn hoa dại nở. Có thể có những bông hoa mà chưa ai nh́n thấy bao giờ. Nhưng nó vẫn nở. Nở cả mấy triệu năm nay trong im lặng và cô độc. Nó nở v́ không phải nở để cho ai trầm trồ về vẻ đẹp của nó. Nó nở như tự thân nó phải sinh ra như vậy và kiêu hănh như vậy dưới trời xanh vô tận kia.

Nếu nó chỉ nở với mục đích để cho người khác nh́n thấy mà cúi đầu trước nó th́ nó đă tàn lụi từ lâu rồi. Bởi nó không đủ kiên nhẫn để đợi trong mấy triệu năm cho tôi hay ai đó một chiều như chiều nao nh́n thấy nó và cúi đầu chiêm ngưỡng. Và tôi chợt nghĩ về số kiếp bé bỏng h́nh như chẳng có ư nghĩa ǵ của tôi trên thế gian này.

Tôi đang sống không có ai biết đến những ngày ở vùng đồi mênh mông này. Những ngày mà không thù hận. Không đố kỵ, không nguyền rủa, oán trách, không hơn thiệt.

Nhưng có một điều tôi nhận thấy rất rơ khi tôi đứng trên đỉnh đồi một ḿnh với hoa cỏ, với gió, với trời xanh th́ ḷng tôi dâng lên niềm kiêu hănh vô cùng v́ đă được sinh ra trên thế gian này để được nh́n thấy một bông hoa dại mọc như mơ hồ dưới những lá cỏ mà không ai nh́n thấy và cũng có thể họ không cần nh́n thấy.

Và tôi tự hát chỉ ḿnh tôi nghe thấy về sự sinh ra, về sự hiện diện của tôi và của bông hoa dại kia.


-----------------------------------------------------

(C̣n tiếp...)

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều



phongdiep - July 7, 2007 08:27 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (chương XVI)

Thế là tôi đă xa cố hương một triệu năm. Có một ai đó cho đến bây giờ tôi không làm sao nhớ nổi đă đưa tôi trở lại làng. Nếu không có người ấy th́ có lẽ tôi không bao giờ t́m lại được làng tôi sau một triệu năm. Khi người ấy chỉ vào sa mạc đá mênh mông và nói làng của ngươi đấy th́ tôi vội nói : không phải, không phải làng tôi. Người ấy khẽ mỉm cười và bảo : Ngươi xa làng đă một triệu năm rồi. Nghe vậy tôi giật ḿnh kinh hăi.





Giấc mộng thứ ba...

Tất cả đă không c̣n ǵ nữa. Ḍng sông Đáy, con đường làng, những ngôi nhà và những người thân đă biến mất. Quanh tôi là một miền đất hoang vu đầy những tảng đá lớn nhỏ chạy triền miên như đến tận chân trời.

Tôi bàng hoàng đau đớn và bỗng oà lên khóc. Tại sao tất cả lại biến mất không đợi tôi trở về? Tại sao tôi lại có thể bỏ cố hương đi từng ấy năm? Tại sao đă từng ấy năm trôi đi mà tôi lại đinh ninh nghĩ rằng tôi vừa mới rời xa cố hương mấy tháng? Tôi đă trở về nơi chôn rau cắt rốn của tôi mà sao như đang ở một hành tinh khác ? Tại sao tôi có thể sống đến từng ấy năm ?

Bao câu hỏi dâng lên trong ḷng tôi trong buổi chiều ấy. Gió đang thổi miên man quanh tôi. Gió thổi qua những hốc đá thành những tiếng u trầm như tiếng tù và chăn trâu thuở xa xưa. Những cái cây cũng chẳng c̣n quen thuộc với tôi nữa. Bên cạnh những tảng đá là những cái cây xa lạ. Tôi chưa bao giờ gặp những cái cây ấy.

Tôi đi lang thang trên sa mạc đá. Tôi nhận ra những tảng đá khổng lồ giống những ngôi nhà của làng tôi. H́nh như đó là những ngôi nhà đă hoá đá chứ không phải những tảng đá b́nh thường. Đúng vậy, tất cả không mất đi. Đến lúc này tôi mới nhận ra tất cả vẫn như xưa và đă biến thành đá.

Ḍng sông đá vẫn chảy và những con cá đá vẫn bơi. Bến sông con thuyền đá vẫn chống sào đợi khách. Cánh đồng đá vẫn những con trâu đá kéo cày. Vẫn những người nông dân đá cúi mặt trên cánh đồng cấy lúa. Những con chó đá vẫn ngửa mặt lên trời sủa trăng. Tất cả đă hoá đá từ khi nào và sao tất cả vẫn đói nghèo đau khổ thế kia ?

Mặt trời đang ch́m xuống. Mặt trời th́ vẫn vậy. Hoàng hôn bắt đầu đổ xuống. Những ngôi sao đă hiện lên. Tôi ngước nh́n những ngôi sao và nhận thấy chúng sà xuống quá thấp ngay phía trên đầu tôi.

Tôi giơ tay về phía những ngôi sao. Năm đầu ngón tay tôi được ánh sáng một ngôi sao gần đó toả sáng. Bóng đêm đă trùm phủ khắp nơi. Và gió thổi bất tận. Tôi chưa bao giờ thấy một đêm nhiều gió như vậy. Tôi ngồi xuống một tảng đá nhỏ và cúi đầu đau khổ. Tôi biết đi đâu bây giờ ? Tôi chợt ngửa mặt kêu lên : Sao không c̣n ai ở đây thế này ?

Tôi nghe có tiếng động sau tôi. Một âm thanh giống tiếng ch́a khoá tra vào ổ khoá. Và tiếng rít lên khe khẽ của một cánh cửa có những bản lề đă gỉ. Tôi vội quay lại. Tảng đá khổng lồ giống ngôi nhà của tôi xưa từ từ hé mở và một người đàn bà bước ra. Đấy là một bà già, tóc trắng phau, da đồi mồi, nhưng đôi mắt th́ lại quá trẻ. Tôi nh́n vào đôi mắt ấy và thấy một cái ǵ đó vô cùng quen thuộc. Bà già mở to đôi mắt kinh ngạc nh́n tôi. Và bất chợt bà khóc. Một lúc sau, bà hỏi tôi trong thổn thức :

- Sao đến bây giờ anh mới về ?
- Bà là ai ? Tôi ngơ ngác hỏi.
- Em đây – Bà vẫn nức nở – Trang đây.

Tôi kinh hoàng khi nghe vậy. Tôi không thể nào tưởng tượng nổi bà ǵa đứng trước mặt và gọi tôi lại chính là vợ tôi. Như hiểu được ư nghĩ của tôi, vợ tôi nói :

- Anh xa nhà đă một triệu năm rồi.
- Một triệu năm thật ư ? Tôi hỏi lại như mê sảng.
- Một triệu năm. Em và các con đợi anh măi.


Tranh sơn dầu của Nguyễn Quang Thiều


Rồi các con tôi cũng từ ngôi nhà đó bước ra. Tôi không làm sao nhận ra con gái tôi ngoài đôi mắt và giọng nói của nó. Khi tôi đi, con gái tôi mười bốn tuổi. Trong chiếc vali của tôi lúc này vẫn có một con búp bê tôi mua cho con tôi. Tôi đâu có ngờ món quà ấy tôi đă mua từ một triệu năm trước đó.

Tôi không biết nói ǵ về sự trở về quá muộn mằn của ḿnh. Tôi cũng không hiểu được v́ sao. Tôi vẫn gặp lại tất cả. Nhưng tất cả đă khác ngày tôi đi. Vợ tôi có c̣n đợi tôi về và th́ thầm “em nhớ anh” nữa không ? Con gái tôi có c̣n ríu rít hỏi “ bố mua quà cho con không ?”. Con trai tôi có c̣n bước vội ra xách vali cho tôi nữa không ? Tất cả đang đứng trước tôi đây. Nhưng tất cả đang nh́n tôi xa lạ.

Đêm ấy, tôi ngủ trong ngôi nhà đă hoá đá của tôi. Nhưng tôi không thể nào nâng được chiếc chăn trên giường vợ chồng tôi v́ nó đă hoá đá. Tôi cầm tay vợ tôi và kéo ngồi xuống mép giường. Khi tôi định cúi xuống hôn vợ tôi th́ vợ tôi vội đứng dậy và lùi lại. Nàng khóc. Nàng không thể ân ái với tôi được nữa. Nàng đă hơn tôi gần một triệu tuổi. Tôi kinh hăi và đau đớn kêu lên.

Tôi tỉnh giấc. Người tôi đầm đ́a mồ hôi. Tôi bàng hoàng ngồi măi trên giường. Một lúc sau tôi mới nhận ra tôi vừa qua một giấc mộng. Ngoài trời đang mưa. Tiếng mưa gơ đều đều trên mái nhà. Những ngày xuân thực sự đă đến. Lúc ấy tôi nhớ nhà vô hạn. Tôi thấy may mắn và hạnh phúc vô cùng v́ tất cả những ǵ diễn ra chỉ là một giấc mộng. Tôi đang ở trong khu nhà của các nhà thơ xứ Ai-len bên bờ biển và mấy ngày nữa tôi sẽ trở về nhà.

Giấc mộng ấy diễn ra trong bao lâu ? Tôi nghĩ chỉ chừng dăm phút. Có thể chỉ là một phút. Và có thể ít hơn nữa. Giấc mộng đă cho tôi được sống khoảng thời gian bằng hàng vạn kiếp của tôi. Ôi, đôi khi chỉ một giác mộng mà người ta đă sống qua cả triệu năm. H́nh như, đến một tuổi nào th́ người ta mới có nỗi nhớ cố hương như thế và mới có những giấc mộng như thế.

Tôi nhớ hai câu thơ của một nhà thơ Hàn Quốc tôi đă dịch: Cố hương là nơi ngươi không thể rời xa/ Cố hương là nơi ngươi không thể trở về. Tôi nhớ đến bộ phim Từ bỏ thế giới vàng. Bộ phim nói về những người t́m vàng vùng Alasca. Hanrich, một kẻ t́m vàng đă trở lên giàu có, đă đến thành phố để sống một cuộc sống đô thị. Một trong những người thân cận nhất của ông, một người bạn t́m vàng, theo ông lên thành phố tên là Bill. Nhưng cuộc sống xa hoa chốn đô thị đă không giữ nổi Bill.

Ông quyết định trở về vùng Alasca băng tuyết của ông. Bill đă nói với Hanrich : Đêm đêm tôi nghe tiếng băng vỡ và tiếng sói hú, tôi đă già rồi, tôi phải trở về Alasca. Đây là nơi Bill đă sinh ra và lớn lên. Sự giàu có và những thú vui chốn đô thị không thể nào giữ được ông.

Năm ba mươi tuổi, nhà thơ Nga vỹ đại Joseph Brosky bị trục xuất khỏi nước Nga. Ông đă đau đớn biết nhường nào. Ông không được chấp nhận ở lại trên mảnh đất quê hương ông. Ông phải ra đi. Và khi bước bước chân cuối cùng dời xa đất mẹ, ông đă nói trong đau đớn và kiêu hănh về t́nh yêu của ḿnh với cố hương : Thơ ca tôi sẽ làm cho ngôn ngữ Nga trở nên vinh quang. Và ông đă làm được điều đó. Ông đă làm cho ngôn ngữ Nga trở nên vĩ đại.

Mặc dù sống ở Mỹ với biết bao điều kiện và sự vinh quang của một nhà thơ vĩ đại, nhưng ông vẫn luôn luôn mang trong ḿnh nỗi đau không hề nguôi của một kẻ phải sống lưu vong. Sau bao nhiêu năm sống tha hương, ông muốn trở về cố hương , nhưng chính quyền Liên Xô đă chối từ ông. Họ đă chối từ một trong những người con ưu tú nhất của nước Nga. Họ đă chối từ một trong những nhà thơ vĩ đại nhất thế kỷ hai mươi của thế gian. Họ đă sai lầm. Và họ đă sụp đổ. Và cho đến khi chết, ông vẫn không có lần nào có thể trở về Petersburg, thành phố cố hương của ông.

Tôi thường có dịp đi xa. Và những ngày sống xa nhà tôi thường thức giấc trong đêm. Ngay trong một khách sạn năm sao ở Qeensland nước Uc bất chợt tôi thấy sực mùi rơm mốc trong mưa. Tiếng ếch kêu trong những đêm tháng Bảy. Tiếng nhái râm ran buổi hoàng hôn ven chân đê. Mùi cám lợn nồng ngái.

Tôi đă đến cái tuổi không thể nào sống xa cố hương ḿnh cả đời được nữa. Năm 1992, trong chuyến sang úc đầu tiên theo lời mời của Bộ Ngoại giao và Thương mại Uc, một người bạn đă khuyên tôi ở lại. Lúc đó tôi ba mươi sáu tuổi. Nhưng tôi đă không thể ở lại.

Tôi không thể sống xa mảnh đất này được nữa rồi. Việc quyết định không ở lại của tôi không hề có vấn đề chính trị ǵ. Đó chỉ là con người tôi không thể tách rời những ǵ tôi đă sống cùng suốt mấy chục năm từ thuở tôi sinh ra. Tôi may mắn không phải sống lưu vong mặc dù trên xứ sở của ḿnh hàng ngày tôi vẫn phải chứng kiến những chuyện buồn đau và không phải không có một lúc nào đó tôi muốn ra đi. Nhưng phải rời bỏ cố hương là một điều bất hạnh. Đôi khi, đối với một số người, nó giống như cái chết.

(C̣n tiếp chương cuối...)

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều



phongdiep - July 12, 2007 08:55 AM (GMT)
Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (chương cuối)

Nhà thơ giải Nobel văn chương J.Brodsky nói khi ông không làm thơ, thế gian chỉ là một địa ngục. Đă có một thời gian dài tôi từng nghĩ như ông. Chính thế đă có lúc ngồi trên máy bay, tôi không muốn trở về mặt đất nữa.






Tôi đă từng tuyệt vọng. Và tôi đă từng lấy mọi thứ có thể để chống lại sự trống rỗng khổng lồ trong tôi. Cũng chính thế mà tôi từng rồ dại, từng sai lầm, từng đi như một kẻ mù loà, từng căm thù chính tôi.

Có một nhà văn nước ngoài viết ông thực sự kinh hăi con người. Khi đang ở tuổi mười tám, đôi mươi, tôi đă không tin điều ấy. Nhưng rồi tôi là nhân chứng của sự kinh hăi ấy. Tôi đă kinh hăi con người. Và đôi lần, tôi đă kinh hăi chính tôi.

Tôi là một con người với một linh hồn và một thân xác. Linh hồn tôi vô h́nh c̣n thân xác tôi hiện hữu. Cái vô h́nh thường làm chúng ta vô trách nhiệm với nó. Trong khi đó chúng ta quá mải mê chăm sóc hay nói chính xác hơn là hầu hạ cái hiện hữu.

Chúng ta đă để cho cái hiện hữu đày đoạ chúng ta. Sự hiện hữu này là một hiện thực mà chúng ta phải chấp nhận. Thân xác chúng ta là thách thức lớn nhất của chúng ta. Có một lần tôi hỏi mấy người bạn nhà văn rằng họ đang sống với lư do ǵ ?

Những người được hỏi bắt đầu nh́n lại phần đời sống họ đă đi qua trong nhiều năm và nhận thấy rằng: họ đă sống như một bản năng. Những điều tôi đang nói và câu trả lời của những người bạn là một hiện thực.

Mặc dù, hầu hết chúng ta luôn luôn t́m cách chống lại hiện thực đó. Bởi chúng ta sợ hăi sự vô nghĩa do chính chúng ta làm nên. Chúng ta đă bị hiện thực giết chết. Bởi chúng ta không bao giờ chấp nhận hoặc chấp nhận với đầy ngờ vực một đời sống tinh thần kỳ diệu như ở Thiên đường ngay trên thế gian này.

Chúng ta biện minh cho cái hiện thực tồi tệ của chúng ta bằng quá nhiều giá trị của đạo đức, của nghĩa vụ và của ư thức.


Ngày ngày, chúng ta thức dậy nặng nề và vội vă. Chúng ta vội vă ăn sáng, vội vă đến công sở và làm những công việc với một sự gắng gượng. Rồi chúng ta nḥm ngó nhau, chúng ta mưu mô, chúng ta tranh giành nhau, chúng ta thù hận nhau, chúng ta hạ bệ nhau, đàn áp nhau và giam cầm nhau. Rồi chúng ta vội vă ăn trưa. Rồi chúng ta ngạo mạn một cách ngu xuẩn. Rồi chúng ta tự măn một cách đê tiện.

Chúng ta vội vă mua sắm. Chúng ta vội vă xây dựng nhà cửa. Chúng ta vội vă tích luỹ tiền, vàng. Rồi chúng ta vội vă từ công sở trở về nhà. Vội vă ăn tối và lăn ra ngủ với đầy khát thèm của ư thức chiếm đoạt trong ngày mai.

Cái ṿng quay ghê tởm này đă không tha bất cứ một kẻ nào. Nhưng có những kẻ nhận ra điều ấy và t́m cách thoát khỏi nó. Nhưng không ai dám nói anh ta hoàn toàn thoát khỏi cái ṿng quay ấy khi anh ta vẫn mang trên ḿnh một hiện hữu : thân xác. Thân xác ở đây chính ta sự tồn tại của dục vọng. Nhưng đó lại không phải là điều hệ trọng nhất. Điều quan trọng nhất là anh ta luôn luôn ư thức được điều đó và hành động cho sự tự do của tâm hồn ḿnh.

Đă có một lần tôi mơ thấy ḿnh bay lơ lửng trên cao và nh́n xuống thế gian. Tôi chắc không chỉ ḿnh tôi đă mơ như thế. Và từ trên cao tôi nh́n thấy chính tôi đang cùng biết bao người khác đang chen chúc trên những con đường trên mặt đất. Một cảnh tượng hỗn loạn và thật tội nghiệp hiện ra trước mắt tôi.

Khi chúng ta thoát ra khỏi chúng ta để quay đầu nh́n lại chính chúng ta, chúng ta mới thật sự kinh hăi về những năm tháng chúng ta đă sống và đang sống.

Chẳng lẽ chúng ta, những kẻ được quyền cất giữ những giấc mơ đẹp, lại hiện ra thật tồi tệ và đầy đoạ đến như thế kia. Và trong đám đông bất tận đang chen chúc, đang nguyền rủa nhau, đang mưu mô, đang độc ác, đang lầm lạc, đang tuyệt vọng, tôi thấy những đôi mắt ngước lên.

Họ đang cầu xin và mơ ước được đến Thiên đường một ngày nào đó. Và trong những người ngước mắt lên mơ đến một Thiên đường đă có qáu nhiều người gục xuống bởi tuyệt vọng về chính điều họ mơ đến.

Họ không đủ kiên nhẫn đợi chờ cái ngày họ được đến Thiên đường. Họ đă gục ngă trong bóng tối của vô vọng. Họ đă mắc một sai lầm lớn nhất khi họ nghĩ đến Thiên đường như một nơi chốn kỳ diệu đến kinh hăi ở phía thẳm xa kia.

Nhưng với tôi, Thiên đường ở ngay cạnh chúng ta, chỉ cách một lớp áo, một làn da và nói cho đúng hơn th́ Thiên đường ở ngay trong ḷng bàn tay của chúng ta. Nhưng chúng ta đă không tin và không nh́n thấy điều ấy.




Tôi đă có lần nói chuyện với một Linh mục về Thiên đường. Tôi nói với ông rằng : Nếu Thiên đường chỉ là nơi trong suốt, nơi chúng ta một màu xanh lơ lửng trôi, nơi chúng ta không cần đến giọng nói và ánh mắt, nơi không có những cái cây và những hồ nước...th́ có lẽ tôi phải xem lại rằng tôi có muốn về nơi ấy hay không ?

Bởi tôi, cụ thể con người tôi, càng ngày càng thấy rằng ở chính nơi làng quê tôi, nơi thành phố tôi ở, tôi đă thấy Thiên đường hiện ra và tôi đă được sống trong cảnh huy hoàng kỳ vĩ ấy. Tôi đă từng có những chiều đi chân trần trên cánh đồng rực vàng của lúa chín với cơi ḷng thanh sạch vô cùng. Lúc ấy, tôi được ch́m đắm trong hương lúa, trong gió từ những chân trời vô tận thổi về và trong bầu trời trong vắt. Và lúc ấy, một giai điệu ngọt ngào từ đâu đó dâng lên măi tràn ngập tâm hồn và thể xác tôi. Và tôi tin hơn bao giờ hết đấy là một h́nh ảnh đích thực của Thiên đường.

Tôi nói với một người bạn rằng khi bạn cúi xuống bên người thân yêu của bạn và nói: Anh hạnh phúc biết nhường nào th́ lúc đó một h́nh ảnh của Thiên đường xuất hiện. Khi bạn đốt những ngọn nến lên vào một buổi tối trong ngôi nhà của bạn và rót rượu vang đỏ vào những chiếc cốc pha lê cùng âm nhạc, cùng lời th́ thầm kỳ diệu về những điều kỳ diệu nào đấy với bạn bè quanh bạn th́ đấy là một h́nh ảnh của Thiên đường.

Khi bạn thức dậy trong buổi sáng mùa xuân, bạn nh́n qua ô cửa và thấy hoa mận nở trắng trong vườn, bạn ngửi thấy mùi hương quyến rũ và tinh khiêt vô tận của hoa Mộc, bạn khẽ khàng bước vào khu vườn của bạn, ḷng bạn vang lên giâi điệu của đất trời và ngập tràn ánh sáng dương gian th́ đó là một h́nh ảnh của Thiên đường.

Bạn thử hỏi những h́nh ảnh kia, màu sắc kia, giai điệu kia, ánh sáng kia và những gương mặt thân yêu kia có phải là những h́nh ảnh lộng lẫy nhất và yên b́nh nhất không ? Bạn thử hỏi bạn có mong ước nào hơn là được sống, được mở tâm hồn ḿnh trước tất cả những điều kia không ? Không. Không c̣n ǵ đẹp và yên b́nh hơn thế.

Tất cả những cái đó không phải ở trên chín tầng mây. Tất cả những cái đó đang hiển lộ trước bạn kia ngay từ khi bạn sinh ra, nói đúng hơn là từ khi bạn hiện lộ trên thế gian này. Nhưng bạn và bao người khác và cả tôi đă từng đi qua những h́nh ảnh ấy mà chúng ta không biết. Dục vọng quá lơn làm chúng ta mù quáng.

Chúng ta không t́m được một h́nh ảnh lộng lẫy , một khoảng khắc yên b́nh, một giai điệu diệu kỳ ngay trong thế gian chúng ta đang sống. Thiên đường không phải là một thửa ruộng bên cạnh một thửa ruộng khác là Địa ngục. Khi một con người nhận biết được vẻ đẹp tuyệt đỉnh của đời sống th́ Thiên đường lại được mở rộng ra với một “diện tích” bằng người đó.

Thiên đường chỉ không hiển hiện ở những nơi nào không có sự nhận biết vẻ đẹp của thời gian ấy và không gian ấy. Khi chúng ta nhận biết được những vẻ đẹp của thiên nhiên và của sự sống th́ nghĩa là chúng ta nhận biết được Thiên đường. Thiên đường không phải là nơi chốn chúng ta được đến đó sau khi chết. Nó hiển hiện mọi nơi mọi lúc trừ nơi u tối và lú lẫn của con người.

Trong buổi nói chuyện ở Trung tâm Giao lưu Văn hoá Quốc tế tại Hà Nội năm 2005, Thiền sư Thích Nhất Hạnh nh́n các thính giả và nói: Tôi thấy các quí vị ở đây đều là những người thành đạt, có quyền lực và có tiền của, nhưng tôi không nh́n thấy những gương mặt mang sự yên b́nh. Sự yên b́nh, nói một cách đơn giản nhất, chính là Thiên đường.

Khi sự yên b́nh tràn ngập ḷng ta th́ mọi đói khát, mọi bệnh tật, mọi mưu mô, mọi ngờ vực, mọi tăm tối, mọi tham lam, mọi độc ác...trong ta biến mất. Thiên đường là nơi chốn làm cho con người được sống như thế. Nhưng chúng ta đă không nhận ra được điều ấy. Chúng ta đă lao vào những tṛ chơi tồi tệ của quyền lực và dục vọng. Và tṛ chơi ấy đă lôi chúng ta đi một đoạn đường bằng cả cuộc đời ḿnh.

Chúng ta kết thúc cuộc đời chúng ta trong lú lẫn, trong hoang tưởng, trong dày ṿ, trong tính toán, trong đày đoạ và trong tuyệt vọng. Và ngay cả đến lúc đó, chúng ta vẫn cầu nguyện để được bước vào lănh địa của Thiên đường. Đấy là sai lầm ngớ ngẩn nhất của chúng ta. Và bởi vậy, chúng ta là những kẻ đi qua Thiên đường với đôi mắt mù loà.

Những ǵ tôi nói một cách đơn giản nhất trong những ḍng chữ đơn giản này không mang tính tôn giáo hay thần học. Tất cả chỉ là sự chiêm ngưỡng của tôi, của chúng ta trong đời sống mà chúng ta đang sống mà thôi. Và tôi tin sau khi được trút bỏ thân xác nặng nề và đau đớn, chúng ta đều được ban phước kể cả kẻ lầm lạc cho tới những vị Thiền sư.

Chúng ta sẽ được phép thiêng cho thấy Thiên đường. Và chúng ta sẽ kêu lên kinh ngạc : Đó là nơi chốn tôi đă từng đi qua trong cuộc đời ḿnh. Bởi ở đó vẫn là những cái cây ấy, ḍng sông ấy, ao đầm ấy, hoa cỏ ấy, ánh lửa ấy, những con cá ấy, những cánh chim ấy và những gương mặt người ấy.

Chỉ có điều tất cả những cái đó đều ngập tràn ánh sáng, ngập tràn âm nhạc và sự yên b́nh mà những khoảng khắc ấy chúng ta ít nhất một lần đă gặp trên thế gian mà chúng lại bước qua v́ không nhận ra.

Hết.

Tiểu luận của Nguyễn Quang Thiều

(Trích từ bản thảo cuốn sách Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng)






* Hosted for free by InvisionFree